MỜI QUÝ VỊ VÀO THẮP HƯƠNG CHO NGÀI THỦY TỔ - TỘC PHẠM TRƯỜNG
Họ và tên :    Ở tại :    Hình ảnh :
Chia sẻ :
NGƯỜI MỚI THẮP HƯƠNG
————————————
13:32 - 10/02/2016
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
Ở tại: GIA LAI
THỐNG KÊ : Số người đã thắp hương ngày hôm nay : 131 - Tổng số lượt thắp hương : 44.439
 
THỐNG KÊ
Số người trực tuyến : 3
Số lượt truy cập : 1.304.423

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player


Tin tức hoạt động

 

ĐỨC TRẦN TRIỀU VƯƠNG TẾ, CHIÊU CẢM HÙNG VĂN ĐẠI VƯƠNG, ĐIỆN TIỀN CHƯỞNG SOÁI ẤN (ĐIỆN SOÁI),

THƯỢNG TƯỚNG QUÂN PHẠM NGŨ LÃO (1255-1320)

(Ất Mão 1255 - tháng 11. Canh Thân 1320)

 

Đức Trần triều vương tế, Chiêu Cảm Hùng Văn Đại vương, Điện soái Phạm Ngũ Lão là một danh tướng lẫy lừng với những chiến công hiển hách được ghi vào lịch sử bằng những trang vàng  chói lọi dưới thời nhà Trần với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông mà vó ngựa của đạo quân này đã từng dẫm nát cả châu Âu lẫn châu Á trong thời đại ấy.

Nơi sinh Đức Phạm Ngũ Lão

Họ Phạm Linh Kiệt Diễn Châu, Nghệ An nói chung, và tộc Phạm Trường Bàn Lãnh chúng ta nói riêng vô cùng vinh dự được làm con cháu của Ngài.

Ngài chính là đức Thái Thủy Tổ khảo hiển vinh của họ Phạm Diễn Châu Nghệ An và bổn tộc Phạm Trường Bàn Lãnh.

Dưới đây, bổn tộc xin trình bày khái quát tiểu sử của đức Thái Thủy Tổ khảo và nguồn cội của gia tộc chúng ta.

1.          THÂN THẾ ĐIỆN SOÁI PHẠM NGŨ LÃO:

     Thần phả đền Phù Ủng ghi Ngài sinh vào dưới đời vua Trần Thái Tông năm Nguyên Phong thứ năm (Ất Mão 1255), tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, châu Thượng Hồng (nay thuộc xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên).

(Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển ghi: “Ngài người quán làng Phù Ủng (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hải Dương). 

Theo Phạm Tộc Thế Phổ: Tổ Tiên và dòng họ của Đức Phạm Ngũ Lão được phát tích ở đất Hồng Châu. (Thời Đinh, Lê và Lý gọi là Châu Hồng; thời Trần là lộ Hồng Châu; đời Lê là phủ Thượng Hồng và Hạ Hồng). Ngài là con cháu của đại thủy tổ Phạm Tu, một danh tướng của Đức Tiền Lý Nam Đế (541 - 548)

Đời thứ nhất: Đại Thủy Tổ Phạm Tu

Thần tượng Đại Thủy Tổ PHẠM TU tại Phạm Tổ Linh Từ, Thanh Liệt, Hà Nội

Phạm Tu (范脩, 476-545) là võ tướng, công thần khai quốc nhà Tiền Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông là người có công giúpLý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, thành lập nước Vạn Xuân độc lập.

Thần tượng Đại Thủy Tổ PHẠM TU tại Phạm Tổ Linh Từ, Tam Bình, Vĩnh Long khánh thành ngày 28//11/2015

Theo thần tích, Phạm Tu người ở trang Quang Liệt tức là làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (tên cũ là huyện Thanh Đàm), nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội, Việt Nam. Nơi sinh ra Phạm Tu được xác định xưa kia là một xóm bãi vải tiến vua nằm bên sông Tô Lịch, thuộc thôn Văn Trì, làng Quang Liệt, nay là thôn Văn, xã Thanh Liệt.

Phạm Tu sinh ngày 1 tháng 2 năm Bính Thìn (tức 1 tháng 2 năm 476), cha ông là Phạm Thiều, mẹ là Lý Thị Trạch.

Khi lớn lên, Phạm Tú có gương mặt phương phi, khôi ngô tuấn tú, học giỏi, tư chất thông minh, hay đọc sách binh pháp. Ông có vóc dáng rất khoẻ và trở thành đô vật nổi tiếng trong vùng, thường được gọi là Phạm Đô Tu.

Sau đây là 5 điều tổng kết về cuộc đời ông:

·         Khai quốc công thần triều Tiền Lý, đứng đầu Ban Võ nhà nước Vạn Xuân

·         Sinh ra bên bờ sông Tô; ở tuổi 70, Ông đã hy sinh ngay ở chiến thành vùng cửa sông Tô trên đất hương Long Đỗ cổ

·         Đánh giặc Bắc: có công lớn trong việc hạ thành Long Biên, giải phóng đất nước, kháng chiến chống quân Lương xâm lược

·         Đuổi giặc Nam: người Việt Nam đầu tiên cầm quân giữ yên bờ cõi phía Nam

·         Tham mưu cho Lý Nam Đế lập kinh đô, chiến thành cửa sông Tô ở vùng đất Hà Nội thời tiền Thăng Long

Bấy giờ Việt Nam nằm dưới quyền đô hộ của nhà Lương thời Nam Bắc triều (Trung Quốc). Viên thứ sử cai trị là Tiêu Tư nổi tiếng tàn ác.

Cuối năm Tân Dậu (tháng 1 năm 542), Giám quân châu Cửu Đức là Lý Bí dấy binh khởi nghĩa, chống lại quân đô hộ nhàLương. Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí được nhân dân và hào kiệt khắp nơi ủng hộ, kéo về giúp sức như hào trưởng Triệu Túc  Tinh Thiều, nguyên là quan cai trị của nhà Lương, bỏ quan chức về với quân khởi nghĩa.

Năm ấy Phạm Tu đã 66 tuổi, song còn khỏe mạnh và hăng hái. Ông tập hợp binh mã, gia nhập quân khởi nghĩa và trở thành một võ tướng chủ chốt của quân khởi nghĩa. Ông cùng với Triệu Túc  Tinh Thiều, trở thành ba vị lãnh đạo chính trong bộ tham mưu của cuộc nổi dậy của Lý Bí. Quân khởi nghĩa đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư bỏ chạy về nước. Quân Lý Bí chiếm đóng thành Long Biên.

Năm 543, nhà Lương lại tập trung quân kéo sang đánh. Lý Bí chủ động đem quân tấn công địch, tiêu diệt phần lớn quân Lương.

Tháng 5 năm 543, vua Lâm Ấp nhân lúc quân khởi nghĩa đang phải đương đầu với phương Bắc, đem quân đánh phá vùng Cửu Đức (Hà Tĩnh ngày nay). Lý Bí cử Phạm Tu mang quân đi đánh. Phạm Tu nhận lệnh cầm quân xuống đánh tan quân Lâm Ấp, ổn định biên giới phía Nam.

Có thuyết cho rằng nhờ công đánh Lâm Ấp, ông được cải sang họ vua là họ Lý và tên là Phục Man (chinh phục người Man), Phạm Tu chính là Lý Phục Man; nhưng cũng có ý kiến cho rằng Phạm Tu và Lý Phục Man là 2 người khác nhau[1].

Năm 544, Lý Bí lên ngôi vua, xưng Nam Việt Đế, tức là Lý Nam Đế đặt tên nước là Vạn Xuân, dựng điện Vạn thọ làm nơi triều hội, lấy Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều đứng đầu các quan văn, Phạm Tu đứng đầu các quan võ của triều đình. Năm ấy Phạm Tu 69 tuổi.

Tháng 6 năm 545, nhà Lương cử một đạo quân khác sang đánh Vạn Xuân, do hai tướng thiện chiến là Dương Phiêu vàTrần Bá Tiên chỉ huy, theo đường biển tiến sang. Lý Nam Đế chống cự ở Chu Diên (vùng duyên hải Hải Dương, Hưng Yên, Lục đầu giang?) không nổi, lui về củng cố thành trì ở cửa sông Tô Lịch (nay là đoạn phố Chợ Gạo, Hà Nội).

Quân Lương đuổi tới tấn công. Phạm Tu lập sở chỉ huy tiền phương (bên Hồ Hoàn Kiếm ngày nay) giữ cửa sông Tô Lịchđược vài tháng, nhưng vì tuổi cao sau nhiều năm xung trận, quân giặc lại đông, gặp lúc hiểm nghèo nên Lão tướng Phạm Tu đã hy sinh anh dũng vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (tức 12 tháng 8 năm 545), thọ 70 tuổi.

Lý Nam Đế rút quân vào Gia Ninh đóng đồn ở hồ Điển Triệt, luyện tập binh mã để sau khôi phục lại.

Xét công trạng của Phạm Tu, nhà Vua truy phong Phạm Tu là Long Biên hầu, đặt thuỵ là Đô Hồ, phong làm Bản cảnh thành hoàng, sắc cho bản hương là Thang Mộc ấp, sưu sai tạp dịch đều được miễn trừ, ban 100 nén bạc lập miếu phụng sự lưu truyền mãi mãi tại làng Thanh Liệt quê ông.

 

Hiện nay ở xã Thanh Liệt có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu, đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực nằm ở xóm Vực, miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng thánh phụ Phạm Thiều và thánh mẫu Lý Thị Trạch.

Theo cuốn "Thành hoàng Việt Nam" của Phạm Minh Thảo (Nhà xuất bản. Văn hóa thông tin, H., 1997, tập II, tr.565), cùng những tài liệu điền dã: nơi thờ chính thức của Phạm Tu ở Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Chính quê ông còn có miếu Vực thờ ông cùng hai vị song thân là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch. Đình Lý Nhân là nơi thờ vọng Phạm Tu ở cùng xã Thanh Liệt vì đình Ngoại trước đây là nơi hương lý hội họp.

Phần mộ của ông trên vùng đất cửa sông Tô Lịch (nơi ông ngã xuống khi chống quân xâm lược nhà Lương năm 545) cũng là một địa chỉ tâm linh quan trọng.

Đình Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai thờ Lý Nam Đế và Phạm Tu (Á thánh) là thành hoàng làng.

Tại thôn Hoành Sơn xã Thái Văn huyện Thái Thụy, Thái Bình cũng có nơi thờ Phạm Tu.

Ngày 28/11/2015 Hội đồng Họ Phạm TP.HCM đã tổ chức khánh thành PHẠM TỔ LINH TỪ thờ Đại Thủy Tổ PHẠM TU tại Tam Bình, Vĩnh Long, Miền Tây Nam Bộ. Trưởng tộc Phạm Trường Ngọc Tuấn được cử làm chánh tế trong lễ đồng tế khánh thành Phạm Tổ Linh Từ

Đoàn đại biểu Gia tộc Phạm Trường – Bàn Lãnh xã về dự lễ khánh thành Phạm Tổ Linh từ tại Vĩnh Long

Bên cạnh đó, qua cuốn "Linh thần Việt Nam" của GS Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, H. 2002), còn tìm được 3 địa phương có thờ vị Đô Hồ Đại vương, tuy nhiên chưa xác định được những nơi đó có phải chính là nơi thờ Đô Hồ Đại vương Phạm Tu hay không.

1.   Xã Linh Khê, Nam Sách, Hải Dương thờ 3 vị đại vương: Uy Minh, Quy Chân, Đô Hồ đại vương

2.   Xã Hương Vân, tổng Nội Viên, huyện Tiên Du, Bắc Ninh thờ Đô Hồ đại vương và Hải Tịnh phu nhân công chúa

3.   Xã Nhân Hào Thượng, tổng Sài Trang, Yên Mỹ, Hưng Yên thờ Đô Hồ tế thế đại vương

Tuy chính sử không ghi chép, nhưng theo tộc phả họ Phạm, Phạm Tu có con là Phạm Tĩnh theo giúp Hậu Lý Nam Đế và khuyên vua Lý dời đô từ Ô Diên về Phong châu. Ông trở thành tướng quốc của Hậu Lý Nam Đế.

Con Phạm Tĩnh là Phạm Hiển, sau khi Lý Phật Tử bị quân nhà Tuỳ bắt về bắc đã chiêu binh chống Tùy trong 3 năm (603-605) và bị thất bại.

 

Đời thứ 2, con trai của Đại thủy Tổ Phạm Tu là Phạm Tĩnh

Khi nhà Lương mất nhà Trần lên thay, vào đời Trần Văn Đế (559-566) Vĩnh Định nguyên niên (559), Đức Phạm Tĩnh Công (Phạm Tĩnh) đã giúp vua Hậu Lý Nam Đế (Lý Phật Tử (555 - 602) phá quân nhà Lương khôi phục lại kinh thành Long Biên, vì có công lớn nên đã được vua phong cho làm Tướng Quốc.

Đời thứ ba, con trai Tướng quốc Phạm Tĩnh là Phạm Hiển.

Đời Tùy Dượng Đế (604-618) năm Đại Nghiệp thứ 8 (611), Đức Phạm Hiển Công vì không chịu đựng nổi sự tham lam và tàn ác của giặc Tùy, cũng đã chiêu mộ binh mã, đứng lên chống lại ách thống trị nhà Tùy ròng rã trong suốt ba năm. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa bị thất bại, Đức Phạm Hiển công lui về vùng Trà Hương thuộc Nam sách Giang và sinh con đẻ cháu ở đấy.

Theo cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt, tập 1” có dẫn thông tin từ cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, căn cứ cuốn Phạm tộc thế phổ:

Hậu duệ của Phạm Tu (là con cháu Phạm Hiển Công) ở vùng Trà Hương thuộc Nam Sách Giang (nay là Nam Trung, huyện Nam Sách, Hải Dương) sinh hạ:

Đời thứ 14: Phạm Trì (Phạm Chí Dũng) là Hồng Châu tướng quân, sinh Phạm Chiêm

Đời thứ 15: Phạm Chiêm (889-951) - nhân vật nổi tiếng thời Ngô Quyền.

Đền Thờ ngài PHẠM CHIÊM tại Hải Dương

Phạm Chiêm, còn gọi là Phạm Lệnh Công, là một công thần, một vị tướng của triều đại tiền Ngô vương. Ông còn là một hào trưởng của vùng Trà Hương, Nam Sách, Hải Dương. Ông là một dũng tướng có sức cử được hàng ngàn cân, võ địch muôn người, thiện xạ bách phát bách trúng.

Năm 938, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn sát hại. Phạm Lệnh Công theo Ngô Quyền kéo quân ra thành Đại La tiêu diệt kẻ phản bội. Do lo sợ bị tiêu diệt, Kiều Công Tiễn đã cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán lúc bấy giờ là Lưu Cung cho con trai là Hoằng Thao kéo quân theo đường thủy sang giúp (thực chất là nhân cơ hội chiếm lấy Giao Châu).

Đầu mùa đông năm 938, cùng với Ngô Quyền dẹp xong bọn phản loạn Kiều Công Tiễn và chuẩn bị toàn lực để đối phó với sự xâm lăng của quân Nam Hán.

Theo lệnh của Ngô Quyền, ông cùng với quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng và nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên. Quân giặc thấy quân của ông chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể dễ thắng lên hùng hổ tiến vào. Đợi đến khi thủy triều xuống ông mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh. Thuyền chiến lớn của quân Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Quân Nam Hán thua chạy, còn Hoằng Thao bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ. Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược.

Ông được Ngô Quyền trọng dụng và phong cho đến chức Đông Giáp tướng quân (tức là ông tướng cai quản vùng xứ Đông).

Năm 944 Ngô Quyền mất; con trai cả của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập thấy biến chạy trốn về nhà ông ở Trà Hương, nhờ ông che chở. Ông đã ba lần đưa Ngô Xương Ngập vào rừng núi Hun Sơn đào mà ẩn láu. Chính vì thế mà ba lầnDương Tam Kha sai Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi cho quân về đuổi bắt mà không làm gì được. Sau này Ngô Xương Văn giành lại được ngôi vua cho người về Trà Hương đón anh là Ngô Xương Ngập về cùng cai quản đất nước. Khu vực núi Hun Sơn sau trở thành một căn cứ quân sự và thuộc phạm vi chiếm đóng của con ông là Phạm Bạch Hổ thời 12 sứ quân.

Đời 16, Phạm Chiêm sinh 2 người con trai là Phạm Man và Phạm Bạch Hổ.

·         Phạm Man là Tham chính đô đốc đời Nam Tấn vương Ngô Xương Văn.

·         Phạm Bạch Hổ là công thần hai triều nhà Ngô và nhà Đinh.

Thần tượng Tướng quân Phạm Bạch Hổ và Phu nhân.Ở giữa là tượng đức Thánh Mẫu

Phạm Bạch Hổ (chữ Hán: 范白虎; 910-972[1]) tên xưng Phạm Phòng Át (范防遏), là võ tướng các triều nhà Ngô, nhà Đinh và là một sứ quân trong loạn 12 sứ quân cuối thời nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Ông là người gốc Nam Sách, Hải Dương nhưng được sinh ra và lớn lên ở Đằng Châu, Hưng Yên. Ngày nay, ông được thờ ở nhiều nơi thuộc vùng châu thổ sông Hồng.

Phạm Bạch Hổ từng tham gia trận Bạch Đằng, 938 chống quân Nam Hán. Ngô Quyền mất, ông chiếm giữ đất Đằng Châu và trở thành một tướng trong loạn 12 sứ quân (966 - 968). Sau theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp các sứ quân khác

Trận Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán

Theo Đại Nam nhất thống chí, Phạm Bạch Hổ sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (tức 22 tháng 2 năm 910), cha làPhạm Lệnh Công người lộ Nam Sách Giang (nay là Nam Sách- Hải Dương) là một công thần dưới triều Ngô vương. Lệnh Công có tiệm buôn ở Đằng Châu, tại đây ông có vợ và sinh ra Phạm Bạch Hổ. Tương truyền mẹ ông nằm mộng thấy Sơn Tinh và Hổ trắng mà có mang nên đặt tên ông là Bạch Hổ. Lớn lên Bạch Hổ có thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ như hổ, thông minh hơn người, văn võ song toàn.

Ông sinh ra trong một dòng họ giàu truyền thống võ nghệ, đời đời làm hào trưởng vùng Trà Hương. Ông nội là Phạm Chí Dũng vốn là Hồng châu tướng quân. Anh trai ông Phạm Man là Tham chính đô đốc đời Nam Tấn vương Ngô Xương Văn. 

Con gái ông, Phạm Thị Ngọc Dung là vợ của Ngô Xương Ngập và sinh ra Ngô Xương Xí, sau trở thành Sứ quân thứ nhất trong 12 sứ quân.

Phạm Bạch Hổ từng làm hào trưởng đất Đằng Châu, theo giúp Dương Đình Nghệ.

Năm Tân Mão 931, ông giúp chủ tướng đánh đuổi Lý Tiến, thứ sử Giao Châu của nước Nam Hán và sau đó đánh bại Trần Bảo do Lưu Nghiễm cử sang cứu viện. Dương Đình Nghệ xưng tiết độ sứ, dùng ông làm nha tướng.

Khi Kiều Công Tiễn giết chết chủ tướng Dương Đình Nghệ, đoạt chức rồi cầu cứu quân Nam Hán sang xâm lược. Phạm Bạch Hổ đã phối hợp với Ngô Quyền đem quân tiêu diệt Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằngnăm Mậu Tuất (938)[1]. Nhà Ngô phong ông chức Phòng Át tướng công, trấn giữ toàn cõi Hải Đông (khu vực nam Hưng YênHải DươngHải PhòngQuảng Ninh ngày nay)

Khi Ngô Quyền mất (944), Dương Tam Kha cướp ngôi vua của Ngô Xương Ngập. Vùng núi Hun Sơn của cha con ông là nơi che chở cho Ngô Xương Ngập 2 trốn thoát khỏi truy lùng của họ Dương. Sau khi Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi giúp Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, Phạm Bạch Hổ tham gia giúp Hậu Ngô Vương.

Năm 965, Hậu Ngô Vương mất, các hào kiệt trong nước nổi lên cát cứ từng vùng. Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu[4]và là một trong mười hai sứ quân thời đó. Những dấu tích ở Côn Sơn, Đông Triều cho thấy khu vực chiếm đóng của Phạm Bạch Hổ còn lan ra cả vùng đông bắc, tức khu vực Hải DươngQuảng Ninh, Hải Phòng ngày nay và khu vực núi Hun Sơn nơi mà Phạm Lệnh Công cha ông từng giấu Ngô Xương Ngập cũng là một căn cứ quân sự của ông, từng diễn ra nhiều trận đánh với tướng Nguyễn Bặc của Đinh Bộ Lĩnh.

Đinh Bộ Lĩnh được sứ quân Trần Lãm giao toàn bộ binh quyền, mang quân đánh dẹp Loạn 12 sứ quân. Đầu năm 966, Phạm Bạch Hổ mang quân về Hoa Lư theo hàng Đinh Bộ Lĩnh, được phong là thân vệ Đại tướng quân. So với 2 sứ quân là tướng nhà Ngô khác là Kiều Công Hãn  Đỗ Cảnh Thạc, có thể ông là người ít có tham vọng bá vương hơn nhưng có con mắt tinh đời, biết nhìn nhận thời thế nên thoát khỏi cảnh binh đao, chết chóc.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, lên ngôi ở kinh đô Hoa Lư, tức là Vua Đinh Tiên Hoàng. Phạm Bạch Hổ trở thành tướng nhà Đinh.

Ngày 16 tháng 11 năm Nhâm Thân (tức 24 tháng 12 năm 972), Phạm Bạch Hổ mất tại quê nhà, thọ 62 tuổi. Đinh Tiên Hoàng đã sắc cho nhân dân lập đền thờ, các triều đại đều phong tặng ông là: "Khai thiên hộ quốc tối linh thần". Tuy nhiên một số nguồn tin khác cho biết ông còn sống đến tận khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế thay nhà Đinh, tức năm 983, thọ 73 tuổi.

Đời thứ 17: Phạm Man sinh ra Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng

Phạm Hạp (范盍, ?-979) là một võ tướng đồng thời cũng là một trong những vị quan trung thần của vua Đinh Tiên Hoàng. Ông là người làng Trà Hương, Nam Sách, Hải Dương. Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là tổ 8 đời của tướng Phạm Ngũ Lão thời nhà Trần. Ông được sử sách Trung Hoa liệt vào danh sách "Giao Châu thất hùng", tức 7 anh hùng người Giao Châu gồm: Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và Phạm Cự Lượng.

Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy binh dẹp loạn 12 sứ quân, Phạm Hạp cùng em trai đem hơn 2000 người, ngựa từ quê đến Hoa Lưphò Đinh Bộ Lĩnh. Theo thần tích đình Hướng Nghĩa, xã Minh Thuận, Vụ Bản, Nam Định thì Phạm Hạp chính là người đánh bại và chém chết sứ quân Nguyễn Khoan ở Tam Đái.

Năm Mậu Thìn (968), dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng Đế, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Phạm Hạp được phong chức quan Vệ Úy, là quan thân cận của vua.

Năm 979, vua Đinh là Nam Việt vương Liễn bị sát hại (xem bài về Đinh Tiên Hoàng), Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi được lập lên ngôi. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp thấy uy quyền của Phó vương Lê Hoàn quá lớn bèn khởi binh chống Lê Hoàn nhưng cả ba tướng nhanh chóng bị Lê Hoàn dẹp tan.

Phạm Hạp bàn với các Tướng quân Đinh Điền, Nguyễn Bặc khởi binh chống Lê Hoàn

Phạm Hạp bị Lê Hoàn xử tử. (nhưng cũng có thuyết cho rằng Lê hoàn chỉ khép ông vào án tử, mà không xử, ông về lập nghiệp làng Cao Mật ). Em trai ông là Phạm Cự Lạng vẫn được Lê Hoàn tin dùng làm tướng dưới quyền.

Danh tướng Phạm Hạp được lập đền thờ ở thôn Đông Thái, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Theo thần tích làng Cao Mật, nơi có đền thờ Phạm Hạp, Ông sinh ngày 20 tháng 7, hoá ngày 30 tháng chạp.Ông về lập ấp ở xã Cao Mật, được hưởng lộc từ số thuế thu được ở huyện Kim Bảng. Sau khi qua đời, nhân dân thương tiếc lập đền thờ. Khi Trần Nhân Tông đi đánh giặc Nguyên, qua đền thờ Phạm Hạp, vào làm lễ cầu đảo, được âm phù thắng trận. Thắng trận trở về, nhà vua phong cho thần 6 chữ Linh ứng bảo quốc cư sĩ. Vua Lê Thái Tổ phong 6 chữ Tô đàm Đại liêu Hồng ân. Năm 1880, vua Tự Đức chuẩn cho dân làng thờ cúng như cũ. Ngài được ban sắc phong của các triều vua Tự Đức năm 1853, Đồng Khánh năm 1887, Duy Tân năm 1909, Khải Định năm 1924. Dân làng có lệ kiêng huý chữ Hạp, hàng năm dân làng tổ chức tế lễ vào các ngày sinh và ngày hoá của ngài.

Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là tổ 8 đời của tướng Phạm Ngũ Lão thời nhà Trần. Ông được sử sách Trung Hoa liệt vào danh sách "Giao Châu thất hùng", tức 7 anh hùng người Giao Châu gồm: Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và Phạm Cự Lượng.

Phạm Cự Lạng (范巨倆, hay còn gọi là Phạm Cự Lượng; 944  984) là danh tướng đời Đinh Tiên Hoàng và được Lê Đại Hành phong cho đến chức Thái úy. Ông là người có vai trò rất quan trọng trong binh biến đưa Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế và Chiến tranh Tống - Việt, 981.

Thần tượng Thái Úy Phạm Cự Lượng

Phạm Cự Lạng sinh ngày 20 tháng 11 năm Giáp Dần (tức 8 tháng 12 năm 944), người làng Trà Hương, Khúc Giang (nay thuộc Nam Sách, Hải Dương), trong một gia đình có truyền thống võ nghệ. Ông nội là Phạm Chiêm, giữ chức Đông giáp tướng quân đời Ngô Quyền. Cha là Phạm Mạn, làm tham chính đô đốc đời Ngô Nam Tấn vương (Xương Văn), mẹ là Trần Thị Hồng. Ông bà có 8 người con, 5 trai, 3 gái đều hiển đạt.

Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy binh dẹp loạn 12 sứ quân, Phạm Cự Lạng cùng Phạm Hạp đem hơn 2000 người, ngựa từ quê đếnHoa Lư phò Đinh Bộ Lĩnh. Phạm Cự Lượng được phong chức Phòng Ngự sứ Tiên phong Tướng quân ra giữ cửa biển Đại Ác.

Năm Mậu Thìn (968), dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Phạm Cự Lượng được phong Tâm phúc Tướng quân coi việc Thị vệ Quan thân cận của vua.

 

Năm 979, vua Đinh và Nam Việt vương Liễn bị sát hại, Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi được lập lên ngôi. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc và anh Phạm Cự Lạng là Phạm Hạp thấy uy quyền của Phó vương Lê Hoàn quá lớn bèn khởi binh chống Lê Hoàn nhưng cả ba tướng nhanh chóng bị Lê Hoàn dẹp tan.

Phạm Hạp bị Lê Hoàn xử tử. Tuy vậy, Phạm Cự Lạng vẫn được Lê Hoàn tin dùng làm tướng dưới quyền.

Năm sau, nhà Tống nhân lúc nước Đại Cồ Việt rối ren, liền nảy ý đồ đánh chiếm, sai quan trấn thủ Ung Châu Hầu Nhân Bảo cùng các tướng Tôn Toàn Hưng, Vương Soạn, Triệu Phụng Huân, đem quân theo hai đường thủy bộ vào xâm lược.

Tình thế Đại Cồ Việt vô cùng nguy cấp. Tháng 7 năm ấy, Thái hậu Dương Vân Nga phong Phạm Cự Lạng làm Đại tướng tiên phong đem quân đi chống giặc. Trước lúc tiến quân, Phạm Cự Lạng hội quân sỹ ở cửa Đào Lâm (nay là thôn Đào Lâm, xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn), nói rằng:

"Có công thì thưởng, có tội thì phạt vẫn là lẽ dùng binh. Bây giờ quân giặc sắp vào cõi mà chúa thượng hãy còn thơ ấu, chúng ta có chút công trạng thì ai biết cho... Chẳng bằng nay ta tôn Thập Đạo Tướng quân lên ngôi Thiên tử đã, rồi sau sẽ xuất quân."

Quân sỹ nghe nói đều hô vang vạn tuế.

Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, Phạm Cự Lạng được phong làm Thái úy. Cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), mọi mũi tiến quân của quân Tống đều bị quân Đại Cồ Việt phá, tướng Tống là Hầu Nhân Bảo chết trận, quá nửa quân Tống bị diệt, buộc vua Tống xuống chiếu lui quân.

Năm Nhâm Ngọ (982), Phạm Cự Lạng được cử cầm quân đánh Chiêm Thành để trả đũa việc vua Chiêm vô cớ bắt sứ giả Đại Cồ Việt.

Mùa thu năm Quý Mùi (983), Phạm Cự Lạng được vua tin trao trọng trách đi khai sông mới từ Đồng Cổ đến Bà Hòa (tức từ Đan Nê, Yên Định đến Đồng Hòa, Tĩnh Gia Thanh Hoá ngày nay). Trên đắp thành đường lớn, dưới khai thành sông lớn để lưu thông thủy bộ. Cũng trong năm này, Phạm Cự Lạng còn chỉ huy đào cảng Đa Cái ở Hoan Châu (tức Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An ngày nay).

Ngày 12 tháng 9 năm Giáp Thân (tức 9 tháng 10 năm 984), Phạm Cự Lạng mắc bệnh sốt rét, mất tại Đồng Cổ, nơi ông đang làm việc, hưởng dương 41 tuổi. Nhà vua thương tiếc sai người đem tướng cữu hồi kinh, an táng tại phía nam Bồ Sơn.

Ghi nhớ công ơn Phạm Cự Lạng ở Đồng Cổ và Đa Cái hiện còn đền thờ ông. Tại Hà Nội, đời vua Lý Thái Tông (1028-1054) giao cho Bộ Lễ viết sắc phong: "Thần Phạm Cự Lạng làm Hoằng Thánh Đại Vương" (sau vì kiêng húy đổi thành Hồng Thánh) chuyên xét việc hình ngục, thờ tại đền Ngự sử (nay là đền Lương Sử thuộc khu Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội). Tại Hưng Lộc (Nghĩa Hưng -Nam Định) cũng có đền thờ Phạm Cự Lạng ghi lại sự tích tương tự như đền thờ Lương Sử (Hà Nội).

Qua cuộc khảo sát và nghiên cứu gần đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 4 di tích lịch sử văn hóa thờ danh nhân Phạm Cự Lạng. Đó là các di tích: đình Đoài thuộc xóm Ngói, xã Hà Châu, huyện Phú Bình, đình Hoàng Đàm, xóm Hoàng Đàm, xã Nam Tiến, đình Thượng Giã, xã Thuận Thành, nghè thôn Nam Đô, làng Đông Cao, huyện Phổ Yên.

Đời thứ 24: Đức Phạm Ngũ Lão là cháu đời thứ 24 của đại thủy Tổ Phạm Tu (hậu duệ đời thứ 8 của Ngài Phạm Hạp)

 Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320) hai lần phá giặc Nguyên, ba lần thắng giặc Ai Lao và một lần đánh thắng Chiêm Thành. Làm quan đến chức Điện Súy Thượng Tướng Quân, sắc phong Chiêu Cảm Hùng Văn Đại Vương.

2.  THờI ĐẠI VÀ SỰ NGHIỆP ĐIỆN SOÁI PHẠM NGŨ LÃO

Ngồi đan sọt mà lo việc nước

Chúng ta hầu như ai cũng đã nghe và biết Đức Phạm Ngũ Lão qua giai thoại ngồi đan sọt mà lo việc nước có nguồn gốc đầu tiên được kể bởi cụ Tùng Niên Phạm Đình Hổ (1768 - 1829). Trong hai cuốn Vũ Trung Tùy Bút  Tang Thương Ngẫu Lục.*5 Cụ Phạm Đình Hổ viết về Ngài: Ông mặt mũi khôi ngô, tài kiêm văn võ, và trong một dịp Đức Hưng Đạo Vương đưa quân từ Vạn Kiếp về Thăng Long, Ngài đã có duyên được gặp để rồi cùng theo Đức Hưng Đạo Vương về kinh đô.

Cẩn thận dò tìm lại trong các bộ chính sử, chúng ta không thấy ghi chép giai thoại này ngoài một đoạn viết về Ngài ngắn ngủi: Phạm Ngũ Lão, người (làng) Phù Ủng, (huyện) Đường Hào, (châu) Thượng Hồng, lúc hơn 20 tuổi, Đức Hưng Đạo Vương thấy và cho là có kỳ tài, đem con gái nuôi gả cho. Nhân đó làm gia thần cho Vương, được Vương dạy bảo thêm, tài nghệ tuyệt vời. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2, Bản kỷ, q. 6, tr. 104). Lúc Ngài hơn 20 tuổi thì thuộc vào đời vua Trần Thánh Tông, trong khoảng niên hiệu Bảo Phù (1273 - 1278).

Tượng ca ngợi Thái Thủy Tổ Phạm Ngũ Lão “Ngồi đan sọt mà lo việc nước”

 

“Ngồi đan sọt mà lo việc nước”

Về đến Thăng Long, Ngài đã được Đức Hưng Đạo Vương tiến cử và giao cho cai quản các đội quân Cấm Vệ có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành. Nhưng có thể tuổi đời Ngài còn quá trẻ, với lại cũng chưa có dịp để chứng tỏ tài năng thực sự của mình và vì vậy, mặc dù đã được sự tiến cử trực tiếp cộng với uy tín của Đức Hưng Đạo Vương, con đường tiến thân của Ngài cũng không dễ dàng.

Đa số những vệ sĩ trong đội quân Cấm Vệ tỏ ra không phục, và nhân dịp này Đức Hưng Đạo Vương cũng chấp thuận để Ngài được thi thố, thấy ông tiến thoái như bay, tay chân đấm đá vùn vụt, vật ngã một lúc năm, sáu vệ sĩ, sức mạnh còn có thể địch nổi muôn người, khiến ai nấy cũng phải phục tài. (Ngày nay tại xã Phù Ủng, dân làng vẫn nhắc đến cái gò đất cao là nơi ngày xưa Ngài thường ra đấy luyện tập võ nghệ).

Từ đó Đức Hưng Đạo Vương càng tỏ ra mến chuộng tài năng, và còn tận tâm dạy dỗ thêm cho Ngài về binh thư cũng như võ nghệ. Không những vậy, sau này Đức Hưng Đạo Vương còn gả người con gái nuôi là Quận Chúa Thủy Tiên cho Ngài làm vợ. 

(Người Quận Chúa này, có một số sách thường ghi lẫn lộn với Anh Nguyên là trưởng nữ của Đức Hưng Đạo Đại Vương, tức vợ vua Trần Nhân Tông; và Tĩnh Huệ, con gái Đức Phạm Ngũ Lão, là thứ phi của Trần Anh Tông. Quận Chúa Thủy Tiên trong gia phả Đức Hưng Đạo Đại Vương, được ghi rõ là dưỡng nữ (con nuôi) gả cho Phạm Ngũ Lão. Nguyên nhân có sự lầm lẫn này bởi do một số truyện tiểu thuyết lịch sử. Với nhiều tình tiết éo le đã  thêm thắt rằng Anh Nguyên và Ngũ Lão yêu nhau, nhưng vì nàng thuộc dòng tôn thất, không thể lấy người ngoài họ. Để giải quyết ổn thỏa, Đức Hưng Đạo Đại Vương đã giáng con gái ruột xuống thành người con nuôi để có thể gả cho Phạm Ngũ Lão).

Trong khoảng thời gian Ngài gặp được Đức Hưng Đạo Vương, đất nước ta đang trong tình trạng bang giao rất căng thẳng đối với triều đình nhà Nguyên. Từ năm 1270 trở đi, triều đình nhà Nguyên liên tiếp sai sứ sang nước ta để gây áp lực, đòi hỏi những yêu sách với thái độ hết sức ngang ngược và thô bạo. Lúc thì lên tiếng trách là vua ta nhận chiếu thư không chịu quỳ lạy chỉ có đứng; tiếp sứ lại không theo lễ, tuy ngồi cùng chiếu mà lại ngồi trên cả sứ giả và bắt nộp voi cùng những đồ cống phẩm khác.   

Năm 1272, Hốt Tất Liệt lại sai sứ sang lấy cớ đòi lại cái cột đồng của Mã Viện, vua ta cho biết hiện giờ không biết chôn ở đâu. Sứ giặc không tin, vua bèn phái Lê Kính Phu dẫn sứ đi hội khám. 

Vào những năm 1275, 1278 và 1279 vua Nguyên càng áp lực bắt vua nước ta phải sang chầu vì“”nước ngươi quy phục đã hơn 20 năm, chưa từng tới triều kiến một lần nào, và các điều quy định khác đến nay vẫn chưa thấy thi hành; tuy rằng ba năm tới cống một lần, nhưng các đồ cống đều không dùng được. Ngươi nếu không chầu thì hãy sửa thành trì của ngươi, chỉnh đốn quân đội ngươi để chờ quân ta”. Nhưng vua ta vẫn một mực cương quyết chối từ, khi lấy cớ là đang có bệnh, lúc thì đang trong thời gian phải cư tang cha. Không những không đi mà còn mạnh mẽ bác bỏ mọi thứ đòi hỏi yêu sách, cùng những điều bắt bẻ rất vô lý của tên Hốt Tất Liệt (Kublai).

Với tình hình khẩn trương như vậy, vấn đề tuyển chọn nhân tài để chuẩn bị một đội quân hùng mạnh cho cuộc chiến chống xâm lăng, là quốc sách ưu tiên và cấp bách của triều đình nhà Trần.

Vào tháng 11 năm 1275, viên thủ thần ở biên giới phía Bắc cho chạy trạm về tâu rằng, vua nhà Nguyên thỉnh thoảng lại sai quân đi tuần ngoài biên giới để xem xét địa thế nước ta. Khoảng tháng 2 năm 1276, triều Trần cũng gửi Đào Thế Quang giả làm người đi mua thuốc sang Long Châu (Long Châu, thuộc tỉnh Quảng Tây giáp biên giới Lạng Sơn nước ta), để thăm dò tình hình quân sự nhà Nguyên. (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chính Biên, q. 7, tr. 503).

Năm 1282 mùa đông tháng 10, viên quan trấn thủ Lạng Sơn là Lương Uất cho quân về cấp báo: Hữu Thừa Tướng Nguyên là Toa Đô đem năm chục vạn quân tinh nhuệ, giả tiếng mượn đường nước ta đi đánh Chiêm Thành, nhưng thực ra là để xâm lấn và còn đòi triều đình ta phải chu cấp lương thực”

Triều đình đã mở ngay một hội nghị quân sự tại Bình Than, cho triệu tập tất cả các vương hầu cùng những tướng lãnh, chỉ thiếu vắng hai người là vua Trần Thái Tông (mất năm 1277), và Thái Sư Trần Thủ Độ (mất năm 1264). Trong hội nghị quân sự quan trọng kỳ này có thêm một khuôn mặt mới, tuy còn trẻ nhưng xét về tài năng và chí khí thì chẳng thua kém ai: Đức Phạm Ngũ Lão với chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Năm đó Ngài mới khoảng độ chừng 27 tuổi. Suốt trong hai cuộc chiến chống giặc nhà Nguyên, Ngài luôn luôn sát cánh bên Đức Hưng Đạo Vương, sẵn sàng đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm, đã từng nhiều lần gây kinh hoàng và tổn thất cho giặc.

Hội nghị Bình Than

Khoảng tháng 8 năm 1284, là trong thời gian nhà Nguyên sửa soạn đem quân xâm lược lần thứ hai. Mặc dù đã chắc chắn biết rõ nhà Nguyên có mưu đồ xâm chiếm nước ta, nhưng triều đình vẫn cử sứ giả là Trung Đại Phu Nguyễn Đạo Học sang Nguyên nhằm điều đình thăm dò, kéo dài thêm thời gian để chuẩn bị.

Nhưng sang tháng chín, đã được tin Thái Tử Thoát Hoan bắt đầu thống lãnh năm chục vạn quân lên đường kéo xuống nước ta.

Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông, thế kỷ XIII

Lần này, tên Hốt Tất Liệt trao toàn quyền hành cho con là Thái Tử Thoát Hoan (Toghan) với tước Trấn Nam Vương chia thành hai đường: Thoát Hoan cùng A Lý Hải Nha (Ariq-Qaya), viên tướng cao cấp người Hồi Hột chức Bình Chương, theo đường Hồ Nam - Quảng Tây xuống; và Bình Chương Nạp Tốc Lạt Đinh (Nàsir ud Din), tên tướng người Hồi kéo xuống bằng con đường Vân Nam.

Trấn Nam Vương Thoái Hoan

Cùng thời gian này vào tháng chín, sau cuộc duyệt quân tại Đông Bộ Đầu, Đức Hưng Đạo Vương đã chia quân ra trấn đóng tại những căn cứ quân sự quan trọng như: tướng Trần Nhật Duật, chặn đường Vân Nam phía Tây Bắc; tướng Trần Khánh Dư, đóng tại Vân Đồn vùng cửa biển phía Đông Bắc; Trần Bình Trọng nắm hải quân tại Bình Than; Thượng Tướng Trần Quang Khải giữ biên giới phía Nam; đại bản doanh của Tiết Chế Hưng Đạo Vương được đặt tại ải Nội Bàng, nằm giữa Lạng Sơn và Vạn Kiếp để tiện liên lạc và chỉ huy các mặt trận; Điện Tiền Phạm Ngũ Lão và tướng Nguyễn Chế Nghĩa lĩnh ấn tiên phong, đưa quân lên trấn đóng tại vùng phía Đông Bắc biên giới, sẵn sàng chờ giặc.

Vì vậy, khi đại quân của Thoát Hoan đến Ung Châu (thuộc Quảng Tây) cách biên giới nước ta khoảng chừng hai trăm cây số đã được thám báo cho biết, có tướng của Đại Việt là Điện Tiền Phạm Ngũ Lão, đã được lệnh trấn giữ tại hai nơi hiểm yếu là ải Khâu Ôn (đèo Dang, huyện Ôn Châu, Lạng Sơn) và Khâu Cấp Lãnh (núi Khao, huyện Lộc Bình, Lạng Sơn).

(Sử nhà Nguyên đã ghi chép lầm tên Ngài là:“có tin tướng Điện Tiền Phạm Hải Nha của Đại Việt đến đóng ở các xứ Khả Lan, Vi Đại Trợ.)

Đến tháng 12 năm 1284, thì quân của Thoát Hoan đã kéo tới sát biên giới nước ta. Doanh trại của giặc đóng san sát chạy dọc suốt từ châu Tư Minh (Quảng Tây) đến Lộc Châu (huyện Lộc Bình, Lạng Sơn). An Nam Chí Lược ghi rõ: Tháng Chạp, ngày 21 Giáp Tý (tức 27 tháng Giêng 1285), quân lính đình trú tại biên giới An Nam, và chia hai đường tiến xuống. (An Nam Chí Lược, Lê Tắc. Viện Đại Học Huế - Uỷ Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam xb 1961, q. 4, Chinh Thảo Vận Hướng, tr. 86).

 

Quân số Đại Việt do Đức Phạm Ngũ Lão trấn giữ tại nơi đây rõ ràng là bao nhiêu sử ta không ghi rõ, nhưng dựa vào sử Nguyên ta được biết: Khi quân đến Vĩnh Châu, An Nam Hưng Đạo Vương sai đem hai vạn quân đóng những nơi xung yếu để chặn quân vua. Với quân số ít ỏi như vậy, chắc chắn Đức Hưng Đạo Vương không có ý định ngăn lũ giặc lúc đầu đang trong khí thế hung hăng mới tràn sang.

Chiến thuật của Ngài mục đích chỉ để Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa đánh thăm dò và cầm chừng, dụ giặc vào tiến sâu trong nội địa nước ta nhằm gây thêm sự kiêu căng và tạo ra sự khinh địch nơi quân giặc.

Bởi vậy trong thời gian đầu đã không có một trận đánh lớn nào đáng kể, ngoài những đội quân nhỏ chia ra đánh với giặc theo lối du kích, cản đường làm chậm bước tiến của giặc. Với chiến thuật nới lỏng như  thế cho nên chỉ sau năm, sáu ngày (ngày mùng 1 tháng 2 năm 1285), giặc mới có thể an toàn vượt đại quân qua được các cửa ải chính trấn đóng nơi biên giới. Và giặc đã dễ dàng chiếm được kinh đô Thăng Long, sau khi đại quân ta cũng đã rút khỏi phòng tuyến chính là ải Nội Bàng, là đồn có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành.

Một trong những phương sách bảo vệ người dân là chiến thuật rút toàn bộ người và lương thực ra khỏi kinh thành, chỉ còn những lực lượng quân sự ở lại chiến đấu chống giặc. Ngày nay chúng ta không thể nào biết rõ toàn bộ kế hoạch này như thế nào, nhưng với những kinh nghiệm một lần trước đây vào năm 1258, việc di tản lần này rất gọn gàng và nhanh chóng chỉ diễn ra nội trong tháng Chạp năm Giáp Thân (1284) - tức tháng Giêng Ất Dậu (1285). (Theo văn bia thờ Công Chúa Phụng Dương - Bà là vợ Đức Thượng Tướng Thái Sư Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải).

Và cũng theo như trong thần phả, Đức Phạm Ngũ Lão được Đức Hưng Đạo Vương giao cho nhiệm vụ đóng quân trên hai khúc sông Xích Đằng (đoạn sông Hồng chảy qua Kim Động, Hưng Yên), và Hoàng Giang (đoạn sông Hồng chảy qua huyện Tiên Lữ, Hưng Yên và Thái Bình, Nam Định), để bảo vệ cho triều đình và dân chúng được an toàn rời khỏi kinh thành Thăng Long.

Đến ngày 19 tháng 2 khi Thoát Hoan chiếm được kinh đô Đại Việt, hắn rất ngạc nhiên và hoang mang vì cung thất tận không. Ngoài mấy tờ chiếu, sắc, điệp văn của triều đình Nguyên bị vua ta xé bỏ cố tình vất vung vãi trên nền, và một số giấy tờ của các tướng biên thùy gửi về để báo tin về tình hình quân sự của giặc. Từ lúc vượt biên giới cho đến khi chiếm được kinh đô Thăng Long chỉ trong thời gian khoảng có hơn hai mươi ngày, khiến Thái Tử Thoát Hoan rất hả hê.

Có thể nói trong cuộc đời chinh chiến từ Đông sang Tây, Trấn Nam Vương Thoát Hoan nói riêng và quân Mông Cổ nói chung chưa bao giờ chiếm được kinh đô một nước lại dễ dàng như vậy. Đi đến đâu Thoát Hoan cũng thấy dán đầy giấy kêu gọi toàn dân phải liều chết chống giặc, nhưng lại hoàn toàn không thấy bóng dáng binh lính của Đại Việt. 

Cuối cùng Thoát Hoan có lẽ cũng đã ngẫm ra được bài học xương máu hơn hai mươi năm trước đây của Thái Sư Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai), nên sau khi vào được kinh đô trống rỗng để mở yến tiệc, hắn lại lập tức cho rút toàn bộ lực lượng ra khỏi kinh thành, vượt sông Hồng trở qua bờ phía Bắc như lúc mới tới để đóng trại. Và đại quân của Thoát Hoan đóng trên đất nước ta cũng chẳng được bao lâu, vì chỉ khoảng ba tháng sau giặc đã bị đẩy vào thế thụ động vừa lo tìm kiếm lương thực, vừa phải lúng túng chống đỡ với những cuộc tấn công như vũ bão của quân ta.

Đúng như những tiên đoán và dự liệu, Đức Hưng Đạo Vương đã đánh gục tất cả những ý chí hung hăng lúc ban đầu, cùng với mọi sở trường của giặc. Chiếm được thành mà giặc cũng không dám ở lại trong thành để giữ. Thiện chiến về môn cưỡi ngựa và bắn cung, đã từng gây kinh hoàng khắp nơi từ Đông sang Tây lên Bắc nhưng, nay xuống tới phương Nam lại chẳng có dịp để thi thố tài nghệ. Chưa hết, tất cả viện binh và thuyền lương lại còn bị quân ta tiêu diệt, khiến tinh thần của giặc càng nao núng giao động mãnh liệt.

An Nam Chí Lược kể:“Mùa hè tháng Tư, An Nam nhân lúc sơ hở, đánh lấy lại La thành. Và sử Nguyên: Quan quân các tướng bàn việc người Giao chống trả. Tuy nhiều lần đánh chúng bại tan, nhưng quân của chúng càng ngày càng nhiều. Quan quân khốn khổ thiếu thốn, tử thương cũng nhiều. Quân và ngựa Mông Cổ cũng không thể thi thố gì được nhiều. Bèn bỏ kinh thành quyết nghị rút quân.

Vào khoảng cuối tháng Ba đầu tháng Tư Ất Dậu, trận phản công đầu tiên do chính Tiết Chế Hưng Đạo Vương đích thân cầm quân đã đánh bật Vạn Hộ Lưu Thế Anh ra khỏi cứ điểm A Lỗ. (Tên này có chức tương đương với Ô Mã Nhi đã được Thoát Hoan và A Lý Hải Nha tin cậy giao cho nhiệm vụ trấn ở đồn A Lỗ). 

 

Trận đánh chớp nhoáng và quá bất ngờ chỉ nội trong vòng chưa đầy một khắc (Khắc: hai giờ đồng hồ), Lưu Thế Anh hoảng hốt bỏ chạy cùng với đám quân về Thăng Long, vội đến nỗi chưa kịp mặc áo giáp nhưng còn kịp cỡi ngựa thoát thân. Đánh chiếm đồn A Lỗ, mục tiêu của Hưng Đạo Vương là cắt đứt mọi liên lạc giữa hai cánh quân phía Nam của Toa Đô (Sogatu) và Thoát Hoan ở Thăng Long.

Cũng trong tháng 4, quân ta dưới sự chỉ huy của tướng Trung Thành Vương (không thấy sử ghi rõ tên thật) đã đánh chiếm được đồn Giang Khẩu, khiến tên tướng giặc Thiên Hộ Mã Vinh đã phải bỏ đồn mà chạy.

Vào cuối tháng 4, với chiến thắng lẫy lừng tại mặt trận Tây Kết - Hàm Tử của Chiêu Thành Vương (không rõ tên thật), Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng Nguyễn Khoái và Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, đã thực sự uy hiếp đến đại bản doanh của Thoát Hoan ở Thăng Long.

Trong trận đánh Chương Dương, Đức Phạm Ngũ Lão đã cùng với các tướng khác như  Nguyễn Truyền, Trần Thông, Nguyễn Khả Lập, kết hợp với đạo quân của Thượng Tướng Trần Quang Khải từ Thanh Hóa tiến ra cùng phá giặc và dồn tất cả chúng về hướng kinh thành.

Sau khi quân ta đã thu phục hoàn toàn kinh thành Thăng Long, Đức Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Khoái lại được lệnh trực tiếp từ Đức Hưng Đạo Vương đem ba ngàn quân ra mai phục hai bên bờ lau sậy tại sông Vạn Kiếp để chờ Thoát Hoan, vì biết chắc chắn y sẽ rút chạy về hướng này. Ngài giao cho hai con là Hưng Võ Vương Quốc Hiến và Hưng Hiến Vương Quốc Uy, đưa ba ngàn quân để chặn đường rút chạy của giặc về hướng châu Tư Minh và đích thân Ngài dẫn đại quân truy sát, để dồn đạo quân Thoát Hoan chạy về hướng Vạn Kiếp. 

Đức Phạm Ngũ Lão truy kích đạo quân của Thoát Hoan

Theo sử, trận phục kích bất ngờ với đội quân của Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão, đã khiến cho đại quân của Trấn Nam Vương Thoát Hoan hoảng loạn, xô đẩy và dẫm đạp lên nhau để tháo chạy, làm cho cầu phao bị đứt và gẫy khiến giặc chết đuối rất nhiều.

Tướng giặc Lý Hằng đi sau có nhiệm vụ bảo vệ Thái Tử Thoát Hoan, đã bị phục binh của Phạm Ngũ Lão bắn chết. Sử của ta thì ghi Lý Hằng bị chết tại trận nhưng trong Trung Thư Tả Thừa Lý Công Gia Miếu Bi ghi rằng: Giặc đóng ở cửa Vĩnh Bình, dùng tên độc bắn xuyên qua đầu gối khiến ông bị thương. Ông cướp được cửa quan, ra khỏi cõi, vì thuốc độc phát tác ông chết ở Tư Minh.  (Toàn tập Trần Nhân Tông. Nxb Tp HCM 2000. Lê Mạnh Thát, tr. 103). 

Nhờ sự hy sinh của Lý Hằng, mà Trấn Nam Vương Thoát Hoan mới có thì giờ chui vào ống đồng - thay cho áo giáp để tránh loạn tiễn, để cho đám tàn quân khiêng chạy bán sống bán chết về tới Tư Minh, cùng với A Bát Xích và Phàn Tiếp.

Trong trận đánh quân Nguyên lần thứ ba năm 1287 (ngày 28 tháng chạp, Đinh Hợi), sau khi Trấn Nam Vương Thoát Hoan chiếm được kinh đô Thăng Long tưởng đã được an toàn, hắn đã ra lệnh cho đoàn quân vận tải lương thực nằm chờ sẵn từ Tư Minh kéo vào. (Đoàn lương khác thì bằng đường thủy do Vạn Hộ Trương Văn Hổ cầm đầu, mà sau này đã bị Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đánh tan ở Vân Đồn). 

Đoàn quân lương này do tên Vạn Hộ Hạ Chỉ đảm nhiệm, gồm có khoảng 2500 tên lính phu khuân vác, có 5000 quân tinh nhuệ đi theo bảo vệ do đám Việt gian Lê Tắc, Nguyễn Lĩnh và Lê Án dẫn đường. Với số lượng quân đông đảo đi theo hộ tống, cho thấy đoàn tải lương này đối với Thoát Hoan rất quan trọng. Ngoài quân nhu, khí giới và lương thực cho người, còn phải chuyên chở cả cỏ cho bầy ngựa chiến. Nhưng khi vừa kéo tới ải Nội Bàng, đã bị đoàn quân của Đức Phạm Ngũ Lão nằm phục sẵn đổ ra đón đánh. Trận đánh diễn ra trong một ngày một đêm, Đức Phạm Ngũ Lão đã tiêu diệt toàn bộ đoàn xe tải lương của giặc. 

Tướng nhà Nguyên, Tĩnh Đô Sự Hầu là Sư Đạt bị tên chết tại trận, năm ngàn quân chỉ sống sót còn lại khoảng chừng sáu mươi tên cùng với đám Vạn Hộ, Thiên Hộ liều chết đánh và mở đường máu và may nhờ có bọn Lê Tắc biết đường, đã dẫn được đám tàn quân chạy thoát ra khỏi cửa ải. Liên tục cắm đầu cắm cổ chạy suốt mấy trăm dặm không dám ngừng, mãi cho đến ngày hôm sau mới về đến châu Tư Minh, nhằm vào ngày mùng một Tết Nguyên Đán năm Mậu Tý. (An Nam Chí Lược. Lê Tắc, q. 19, Tức Sự, tr. 305).

Trong trận đánh quyết định tại sông Bạch Đằng vào ngày 3 tháng 3 năm 1288, Đức Phạm Ngũ Lão được lệnh Đức Hưng Đạo Vương hợp cùng với tướng Nguyễn Chế Nghĩa, cũng lại đem ba vạn quân lên phục sẵn tại ải Nội Bàng (Lạng Sơn) để chuẩn bị cho cuộc tiễn đưa Trấn Nam Vương Thoát Hoan. (Có sách ghi Đức Phạm Ngũ Lão đem tới ba chục vạn quân, có thể nhầm vì vào thời điểm này Hưng Đạo Vương cũng không cần số quân quá nhiều như vậy).

Trận đánh quyết định tại sông Bạch Đằng vào ngày 3/3/1288

Sau khi biết được tin đội hải thuyền đã bị đánh tan tành, và các đại tướng nhà Nguyên lần lượt bị bắt: ngoài hai Tham Chính chỉ huy là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp rớt xuống nước bị quân ta dùng câu liêm móc cổ lên, còn có Đại Vương Tích Lệ Cơ, Sầm Đoạn, Điền Nguyên soái và rất nhiều Thiên Hộ, Vạn Hộ khác. Riêng Vạn Hộ Trương Ngọc, số phận lại không được may mắn.

(Sử của ta ghi Trương Ngọc bị quân của Đức Phạm Ngũ Lão bắn chết trên đường rút chạy với A Bát Xích. Nhưng sử nhà Nguyên lại viết rằng: Trương Ngọc theo Tham Tri Chính Sự Ô Mã Nhi đánh Giao Chỉ, nhiếu lần đánh có công. Năm1288 quân về, An Nam đem quân đón đánh, đánh lớn suốt ngày, nước cạn, thuyền không đi được, Ngọc chết. (Toàn tập Trần Nhân Tôn, Trương Ngọc truyện, Lê Mạnh Thát, tr. 146)

Cọc nhọn trên sông Bạch Đằng hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Viện Bảo tàng lịch sử Hà Nội

Kỳ này, học được những kinh nghiệm xương máu của lần trước, Thoát Hoan đã chia quân ra hai ngã để tháo chạy. Hắn giao cho Đạt Lỗ Hoa Xích Tích Đô Nhi làm tiền quân đi về hướng Tây (tức Chi Lăng - Ôn Khâu) để đánh lạc hướng truy kích của quân ta. Còn chính Thoát Hoan dẫn các tướng Trình Bằng Phi, Áo Lỗ Xích (Aguruyci), Trương Quân (có sách ghi là Trương Quán, Trương Chước), A Bát Xích, Lưu Thế Anh, Đáp Lạt Xích chạy theo hướng Đông về phía cửa ải Nội Bàng.

Để chắc ăn hơn, Thoát Hoan giao cho Hữu Thừa A Bát Xích làm tiên phong mở đường, còn Vạn Hộ Trương Quân thì đem ba ngàn quân tinh nhuệ đi bảo vệ phía sau. Nhưng khốn thay cho Trấn Nam Vương, mọi sự suy tính tuy rất cẩn thận của hắn lại không hơn với những điều đã được Tiết Chế Hưng Đạo Vương dự liệu trước. Bởi vậy khi đám tàn quân do Thoát Hoan vừa rút chạy tới ải Nội Bàng, đã bị phục binh của Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa đổ ra đánh thêm một lần nữa.

Trong trận đánh này, Đức Phạm Ngũ Lão đã giết chết tướng Trương Quân, khiến tên Áo Lỗ Xích của giặc phải thay thế cho Trương Quân đánh chận bọc hậu để bảo vệ cho Trấn Nam Vương chạy. (Cả hai lần Thoát Hoan được vua cha Hốt Tất Liệt phong cho tước Trấn Nam Vương, thế mà Thái tử phải bỏ chạy cả hai lần, thật không có đủ khả năng và tài trí để “trấn” nước Nam)  

Bọn Lưu Thế Anh, Vạn Hộ Đáp Lạt Xích (Daraci) và A Bát Xích phải cố đánh mở đường máu để mong thoát thân, nhưng từ hai triền núi quân ta bắn tên xuống như mưa, chính A Bát Xích đã lãnh đủ một lúc ba mũi tên vào đầu, cổ và đùi, nhưng y vẫn cố ráng chỉ huy, sau vết thương sưng lên phát độc mà chết. (A Bát Xích truyện trong Nguyên sử. Sđd, Lê Mạnh Thát, tr. 151).

Riêng Thoát Hoan lần này lại may mắn nhờ có Hữu Thừa Trình Bằng Phi hết sức bảo vệ, mới bảo toàn được tánh mạng lết về tới châu Tư Minh

Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để chạy trốn

Trong trận đánh tại ải Nội Bàng kỳ này, Đức Phạm Ngũ Lão còn bắt được thêm một số tướng giặc như: Tả Thừa Đường Ngột Đãi, Thiên Hộ Mai Thế Anh và Thiên Hộ Tiết Văn Chính... (Theo lá thư của Thượng Hoàng Trần Thánh Tông gửi cho Hốt Tất Liệt - trong Thiên Nam Hành Ký của Tham Nghị Từ Minh Thiện). Và cũng trong trận đó, bọn Lưu Thế Anh, Đáp Lạt Xích có bắt sống được hai viên tướng của ta là Phạm Trù và Nguyễn Kỵ, nhưng bọn chúng đã ra tay giết chết.

Lần tháo chạy kỳ này đã thực sự  gây nỗi kinh hoàng cho Trấn Nam Vương Thoát Hoan cùng những tên tướng khác, và cũng từ đó đã khiến triều đình Đại Nguyên - Hốt Tất Liệt giật mình tỉnh giấc, đã bỏ hẳn vĩnh viễn giấc mộng vàng đem quân xuống xâm chiếm nước Đại Việt.

Còn Thái Tử Thoát Hoan vì hai lần thua trận, đã bị đầy xuống vùng Dương Châu (Dương Việt), suốt đời không được gặp lại cha là Hốt Tất Liệt. Bình Chương Áo Lỗ Xích, bị cắt chức Hành Tỉnh Hồ Quảng, cho đầy xuống Giang Tây

Ngày 27 tháng 3 năm Mậu Tý (1288) tức khoảng hơn hai mươi ngày sau chiến thắng Bạch Đằng, vua Trần Nhân Tông, Thượng Hoàng Thánh Tông, và toàn thể các tướng lãnh trở về kinh đô Thăng Long để cùng  toàn dân Đại Việt ăn mừng chiến thắng.

**

Xin thêm một chi tiết quan trọng về Đức Phạm Ngũ Lão, chúng ta không thấy trong chính sử nhưng lại được ghi chép trong bản thần phả của Đức An Nghĩa Đại Vương Nguyễn Chế Nghĩa: Năm Mậu Tý, Trùng Hưng thứ 4 (1288), Đức Hưng Đạo Vương ra lệnh cho Nguyễn Chế Nghĩa và Phạm Ngũ Lão, sai mỗi người đem năm ngàn quân đi đánh và hạ được thành Chí Linh. 

Xét lại trong chính sử, chúng ta chỉ thấy hai đoạn ngắn có liên quan như sau: Mậu Tý, Trùng Hưng thứ 4 (1288) mùa xuân, tháng Giêng, Ô Mã Nhi xâm phạm phủ Long Hưng. (Tại phủ Long Hưng có Chiêu Lăng, là khu lăng mộ của dòng họ nhà Trần, tên Ô Mã Nhi này đã khai quật, đào bới lăng mộ vua Trần Thái Tông tung hết lên và cho san bằng tất cả, để trả thù cho lần thất bại trước, trước khi được lệnh đi đón thuyền lương của Trương Văn Hổ). Và tháng 2, ngày 29, Ô Mã Nhi đánh vào trại An Hưng. (Ô Mã Nhi sau khi được lệnh Thoát Hoan đi đón đoàn thuyền lương nhưng không có kết quả, cho nên trên đường trở lại, hắn đã cho quân đi cướp phá, giết hại dân chúng khắp nơi ở vùng An Bang, trong đó có trại An Hưng). 

Đây cũng chính là những nguyên nhân đã dẫn đến cái chết - hậu quả bởi những việc làm ác đức của tên tướng giặc Ô Mã Nhi.

Như chúng ta đã biết trước đó không lâu, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã bị Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đánh tan, bắt được quân lương và khí giới của giặc nhiều không kể xiết. (Trận đánh này diễn ra vào khoảng ngày 11, tháng Giêng Mậu Tý).

Thượng Hoàng Trần Thánh Tông nhân đó đưa ra mưu kế nhằm đánh vào yếu huyệt của giặc: Chỗ trông cậy của quân Nguyên là nhờ về lương thảo và khí giới. Nay ta bắt được cả, nếu không để cho chúng biết tin ngay thì chúng sẽ còn hung hăng. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập II,  Bản kỷ, q. 5, tr. 58). Ngài lập tức ra lệnh thả hết những tên tù binh, để chúng chạy về báo tin với Thoát Hoan. Nhưng chính Thoát Hoan cũng không tin đó là sự thật vì nghi đó là kế ly gián của triều Trần, nên vẫn trực tiếp ra lệnh cho Ô Mã Nhi đích thân đi đón đoàn thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ, nhưng đã không gặp. (Thiệt tình! Nói thật mà Ô Mã Nhi cũng không tin. Có còn nữa đâu mà gặp).

Cuối cùng vì thiếu hụt quân lương, Ô Mã Nhi đã phải ra lệnh cho hai tướng A Bát Xích và Bình Chương Áo Lỗ Xích - viên tướng hiện đang giữ chức tổng chỉ huy, mà nay lại phải nhận nhiệm vụ khẩn cấp là đem quân vào trong rừng núi sục sạo tìm cướp lương thực. Điều này càng cho thấy sự trống rỗng của làng xóm Việt đúng như sử sách nhà Nguyên đã ghi chép rằng: Người Giao đều đem hết thóc gạo giấu và trốn đi. 

Trước tình hình cực kỳ nguy khốn đó, mặc dù là mới chiếm được kinh thành cách đó khoảng một tháng, Thoát Hoan đành cắn răng, bắt buộc phải rời bỏ Thăng Long cho rút hết đại quân về Vạn Kiếp. Trên đường rút chạy, theo như sử Nguyên, thì quân binh của giặc rất vất vả khốn đốn, vì phải giao chiến với ba mươi hai đồn canh của quân ta, và còn có Vạn Hộ Đường Tông bị quân ta giết chết tại trận. Tới được Vạn Kiếp, Thoát Hoan cũng không dám đóng quân trong những trại có sẵn do quân ta đã bỏ lại. Hắn chia quân ra đóng trong các trại ở núi Chí Linh, và Phả Lại mà trước đây do Trình Bằng Phi dựng lên dùng để chứa quân lương.

An Nam truyện cho biết: Ngày 12 tháng Chạp Đinh Hợi, Trấn Nam Vương đóng ở cảng Mao La. Hưng Đạo Vương của Giao Chỉ trốn đi, bèn sai đánh trại Phù Sơn, phá được. Sai Trình Bằng Phi và A Lý đem hai vạn quân giữ Vạn Kiếp, vừa sửa sang rào gỗ ở núi Phổ Lại và Chí Linh.

Lê Tắc viết rõ hơn: Trấn Nam Vương được tin đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị đánh chìm, bèn sai Ô Mã Nhi đốc quân đi cướp lương của An Nam, đồng thời sai Tả Thừa A Lý, Lưu Giang dựng thành gỗ ở hai núi Phổ Lại và Chí Linh để chứa lương nuôi quân. Nhưng nay quân lương không có nên trại này lại được dùng để đóng quân cố thủ.

Khi quân giặc Mông Cổ rút đến đâu thì các đội quân thám sát của ta bám sát theo đến đó, cho nên tất cả mọi quân tình phía bên giặc được triều đình ta nắm rất rõ. Lê Tắc kể tiếp: Tháng 2, Thế tử sai anh họ là Hưng Ninh Vương Trần Tung (anh ruột của Đức Hưng Đạo Vương) nhiều lần đến ước hàng, để cố tình làm mệt quân ta, rồi ban đêm đã sai quân cảm tử thình lình đến cướp doanh trại. (An Nam Chí Lược, q. 4, Chính Thảo Vận Hướng, tr. 90).

Thật là một kế tuyệt hảo, Đức Hưng Đạo Vương muốn tạo cho Thoát Hoan và đám tướng của giặc ảo tưởng rằng, triều đình Đại Việt vẫn sợ hãi và, luôn luôn lúc nào cũng có ý định muốn đưa đầu đệ nạp cho Thái Tử Hoan. Bởi vậy Thái tử nhà ta đâm ra ỷ y và khinh địch, vì tất cả“các tướng đều tin lời nó, cho sửa thành lại để ở và đợi nó đến. Quá lâu, quân giặc đã thiếu ăn mà quân ta cũng không đến hàng, vì vậy giặc Mông Cổ đã bắt đầu có phần lơ là trong việc canh gác và phòng thủ.

Cái đội quân cảm tử được sử nhà Nguyên đề cập đến là đội quân của Đức Phạm Ngũ Lão và Tướng Quân Nguyễn Chế Nghĩa. Cả hai đã được lệnh từ Đức Hưng Đạo Vương đang nửa đêm, dẫn mười ngàn quân bất ngờ xông vào cướp phá doanh trại của giặc, đã khiến Thái tử Trấn Nam Vương nổi giận, ra lệnh Vạn Hộ Giải Chấn đốt thành, tả hữu can mãi mới ngưng.

Với những chiến công to lớn đó mà vào năm sau, tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289), vua phong cho Đức Phạm Ngũ Lão làm Hạ Phẩm Phụng Ngự, công trạng được ghi trong bản Trùng Hưng Thực Lục và cho vẽ hình treo ở  Công Thần Các.

(Đa số trong các cuốn sử đều ghi sai là Trung Hưng Thực Lục, nay xin đính chính lại là Trùng Hưng Thực Lục, vì đó là niên hiệu của vua Trần Nhân Tông từ năm 1285 - 1293.  Là sách cho ghi chép những chuyện thật vào đời Trùng Hưng, như các tập Lam Sơn Thực Lục đời Lê, Trung Hưng Thực Lục đời Lê Trung Hưng hoặc Đại Nam Thực Lục đời nhà Nguyễn. Tập Trùng Hưng Thực Lục nay đã bị thất lạc).

Từ đây, con đường binh nghiệp của Ngài càng ngày càng mở rộng, với những thành tích đánh dẹp giặc Ai Lao và Chiêm Thành vô cùng oanh liệt và hiển hách.

*  *

Canh Dần, Trùng Hưng thứ sáu (1290) tháng 5, Ngài lại được thăng từ Hạ Phẩm Phụng Ngự lên chức Hữu Vệ Thánh Dực, quản lĩnh đội quân Thánh Dực của triều đình.

Giáp Ngọ, Hưng Long thứ hai (1294), đời vua Trần Anh Tông (1293 - 1314) Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (1293 - 1299) thân chinh đi đánh Ai Lao, giao cho Trung Thành Vương làm tiên phong, nhưng bị giặc Ai Lao bao vây tình thế rất là nguy khốn. May nhờ có Đức Phạm Ngũ Lão đưa quân đến giải vây kịp thời, và đội quân thiện chiến đó đã đẩy lui được lũ giặc. Ngài được triều đình ban cho Kim Phù. (Ý nói cứng rắn như kim loại).

Đinh Dậu, Hưng Long thứ năm (1297) vào tháng hai, Ai Lao lại đem quân sang xâm lấn nước ta, chúng chiếm được sông Chàng Long, vua sai Đức Phạm Ngũ Lão đem quân đi dẹp yên và lấy lại được đất cũ. Vua ban thưởng Vân Phù cho Ngài. (Năm Đại Định thứ 14 (1154) vua Lý Anh Tông đã từng sai Đỗ Anh Vũ đi dánh dẹp giặc Ai Lao (sử gọi là người Sơn Lão) ở vùng núi Chàng Long, là nơi tiếp giáp với nước Lào).

Mậu Tuất, Hưng Long thứ sáu (1298) tháng mười, nhà vua cho đặt thêm các quân hiệu như: Thượng Chân Đô, Thủy Dạ Xoa Đô, Chân Kim Đô, và thăng Đức Phạm Ngũ Lão lên chức Kim Ngô Hữu Vệ Đại Tướng Quân đặt làm thống lĩnh các hiệu.

Kỷ Hợi, Hưng Long thứ bảy (1299) tháng tư, triều đình lại bổ dụng Ngài chức Thân Vệ Tướng Quân, kiêm Quản Lĩnh toàn thể đội quân Thiên Thuộc của triều đình. (Thiên Thuộc là tên mới đặt cho làng cũ Tức Mặc, bởi quân lính đều lấy người từ làng này, nên gọi là quân Thiên Thuộc). 

Tân Sửu, Hưng Long thứ chín (1301) tháng ba, giặc Ai Lao lại xua quân sang đánh phá ở các vùng thuộc Đà Giang (Đại Việt Sử Ký Tiền Biên gọi là Long Giang).

(Đà Giang phát nguồn từ Vân Nam, chảy xuyên qua các vùng Lai Châu, Yên Báy, Sơn La, Sơn Tây, Hà Đông rồi ngược lên Hưng Hóa hợp với Hồng Hà mà chảy ra vịnh Bắc Việt). 

Lần này sang giặc Ai Lao có đem theo một đội tượng binh rất lợi hại. Đàn voi trận hung dữ này đi càn quét đến đâu, thì tất cả những làng xóm nơi đó đều tan hoang và biến thành bình địa. Quân binh triều đình các nơi đó lần lượt đã phải rút bỏ chạy, vì không có phương cách nào chống trả nổi. Vua Trần Anh Tông tức tốc sai Đức Phạm Ngũ Lão đưa quân đi diệt trừ. Nhận được lệnh, lập tức Ngài truyền cho tất cả các binh sĩ đi chặt tre đem về. Mỗi cây tre được chặt dài độ vài thước và cho vát nhọn, và đích thân Ngài đứng ra huấn luyện đội quân để phá đàn voi trận này.

Tại Mường Mai (nay là huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình), đội tiền quân thiện chiến và dũng cảm của Ngài đã sử dụng những cây tre xông ra nhắm đâm vào những móng chân của voi. Voi đau đớn lùi lại và điên cuồng dầy xéo lên cả quân giặc, khiến đội hình của giặc hoảng loạn. Bấy giờ Ngài mới thúc đại binh tiến lên phá tan tành lũ giặc, bắt được rất nhiều tù binh và khí giới. Với chiến công này, vua đã thăng Ngài lên thêm một cấp là Thân Vệ Đại Tướng Quân, và còn ban thưởng cho Quy Phù. (Ý nghĩa là mong cho được sống trường thọ).

Nhâm Dần, Hưng Long thứ mười (1302) có nghịch thần tên Biếm tạo phản đã gây rối loạn khắp cả kinh thành. Đức Phạm Ngũ Lão đã đưa quân ra bắt giết được tên Biếm và dẹp yên phản loạn. Lần này vì có công lớn, triều đình đã phong thưởng, thăng cho Ngài lên tới chức Điện Súy Thượng Tướng Quân và ban cho Hổ Phù. (Mang ý nghĩa võ tướng có sức mạnh như hổ, phù hiệu này chỉ dành riêng cho tướng súy. Nơi tướng súy ngồi họp thường trải tấm da hổ, hoặc hình hổ mà ta gọi là hổ trướng).

Dù là người đầy quyền cao, chức trọng, nhưng bản thân và cuộc sống của Ngài lại tỏ ra rất giản dị, không đặt nặng về tiền tài vật chất. Chính vua Trần Anh Tông đối xử với Ngài cũng có những sự kiêng nể.

Sử còn ghi một giai thoại: vào khoảng tháng năm, năm 1312 sau khi vua Trần Anh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành (Trận này cũng có Phạm Ngũ Lão tham dự) và bắt được vua nước Chiêm là Chế Chí. Lúc trở về đóng quân tại Câu Chiêm (Quảng Nam), người con út của vua Trần Thái Tông là Minh Hiến Vương, tên là Uất đã có những lời nói, biện luận gây ra sự hoang mang trong quân đội. Sự việc đến tai vua và Minh Hiến Vương đã bị vua đuổi ra khỏi quân doanh. Vua còn ra lệnh cấm tất cả mọi người không ai được chứa chấp, khiến Minh Hiến Vương đã phải ngủ ngoài đồng hoang cùng với các gia nhân.  

Đức Phạm Ngũ Lão nghe được tin ấy, bèn gọi mọi người đến mà phân giải: Thánh Thượng đang quở trách ân chúa (tức Minh Hiến Vương), và đuổi ra ngoài đồng nội, nếu chẳng may bị giặc bắt được, chúng sẽ phao lên là bắt được Thân Vương của ta, sợ nhục đến quốc thể, chứ có ai biết là bị vua quở trách. Ngũ Lão này thà chịu tội trái lệnh vua, chứ không để giặc nó lợi dụng. Vua nghe được chuyện này cũng làm ngơ, không tra xét hay lên tiếng trách mắng gì cả. 

Sử cũng xác nhận giữa Phạm Ngũ Lão và Minh Hiến Vương tình nghĩa rất thân, đối xử không phân biệt hoặc kiểu cách gì, đến nhà nhau chơi thì ăn cùng mâm ngồi cùng chiếu. Bất cứ điều gì Minh Hiến Vương cần, Phạm Ngũ Lão cũng tận tình giúp đỡ, nhiều khi còn tặng cho cả vàng bạc. Vua đã nhiều lần lên tiếng trách móc Ngũ Lão nhưng, Minh Hiến Vương thì vẫn cứ qua lại mà Ngũ Lão lại cũng không thay đổi.*9

Mậu Ngọ, Đại Khánh thứ  năm (1318) dưới triều vua Trần Minh Tông (1314 - 1329), Chiêm Thành từ sau khi Chế Chí chết (1312), đã nhiều lần mang quân sang đánh phá nước ta. Nhân nhượng mãi, cuối cùng vua mới sai Huệ Vũ Đại Vương Trần Quốc Chẩn làm tiên phong đi đánh. Và giao cho Quản Lĩnh Phạm Ngũ Lão dẫn đội quân Thiên Thuộc đánh tập hậu, khiến quân Chiêm bị thua bỏ chạy tán loạn. Trận này, bên ta thiệt mất viên tướng Hiếu Túc Hầu Lý Tất Kiến.

Khi khải hoàn trở về, triều đình gia phong Ngài tước Quan Nội Hầu và ban cho binh phù Phi Ngư. (Trong ý nghĩa, Phi Ngư là một giống cá ở biển có thể vượt sóng và bay trên mặt nước). Còn bổ dụng một người con của Ngài làm quan. (Không thấy sử ghi chép người con của Ngài tên gì) 

Đó là những thành tích, những chiến công của Ngài đã đạt được trên hầu hết các mặt trận. Đoàn quân của Ngài đi đến đâu là chiến thắng ở đó, chưa bao giờ thất trận. Vì ở trong quân đội, Ngài là một viên tướng chỉ huy tài giỏi và xuất sắc. Những đội quân do Ngài trực tiếp huấn luyện tuy rất là kỷ luật, nhưng các tướng sĩ lại đối đãi với nhau tình nghĩa như trong một gia đình. 

Ngài là vị tướng luôn luôn sẵn sàng đồng cam cộng khổ với binh sĩ, không màng chút gì đến của cải và lợi lộc. Tất cả những chiến lợi phẩm tịch thu được của địch, Ngài đều cho sung vào trong quân kho. Bởi vậy, những đội quân nào được Ngài huấn luyện và trực tiếp chỉ huy, khi ra chiến trường chỉ có chiến thắng chứ chưa bao giờ nếm mùi bại trận. Những đội quân bách chiến bách thắng này của Ngài, vào thời Trần đã được vang danh là những ‘đội quân phụ tử’.

Một trong những kế sách giữ nước, Đức Hưng Đạo Đại Vương đã có lần nhắc nhở vua Trần Anh Tông:“”tùy thời tạo thế, phải xây dựng được đội quân thân nhau một lòng như cha với con thì mới dùng được. Hơn nữa, phải nới rộng sức dân để làm kế rễ sâu cội chắc, đó là thượng sách giữ nước”.

Không những là vị tướng cầm quân giỏi trong quân đội, mà bản thân Ngài còn mang tâm hồn rất thích đọc sách, lại thích ngâm thơ, là con người phóng khoáng và có chí lớn.

Ngày nay về thơ văn, Ngài chỉ còn lại hai bài. Thứ nhất là bài:

THUẬT HOÀI.

Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu,

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

 

THUẬT  NỖI  LÒNG.

(Ngọn giáo non sông trải mấy thâu,

Ba quân tỳ hổ át sao Ngưu.

Công danh nếu để còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu).

(Nam Hải Dị Nhân.  Phan Kế Bính)

Giữa đền thờ của Ngài tại Phù Ủng, hiện nay có treo tấm biển đề bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng này. Ý thơ đã nói lên tất cả những ý chí hăng say và dũng mãnh toát ra từ trong con người của Ngài.

Và bài thơ thứ hai:

VÃN THƯỢNG TƯỚNG QUỐC CÔNG HƯNG  ĐẠO  ĐẠI  VƯƠNG.

Trường lạc chung thanh đệ nhất chùy,

Thu phong tiêu táp bất thăng bì.

Cửu trùng minh giám kim vong hỷ,

Vạn lý trường thành bất hoại chi?

Vũ ám trường giang không lệ huyết,

Vân đê phức đạo tỏa sầu mi.

Ngưỡng quan Khuê Tảo từ phi dật,

Ngư thủy tình thâm kiến vịnh thi.

 

VIẾNG THƯỢNG TƯỚNG QUỐC CÔNG

HƯNG  ĐẠO  ĐẠI  VƯƠNG.

(Tiếng chuông trường lạc một hồi buông,

Hiu hắt hơi thu xiết nỗi buồn.

Muôn dặm thành dài ai nỡ phá?

Chín trùng gương sáng phút mờ luôn.

Mây trùm phức đạo mi sầu nhíu,

Mưa ngập trường giang lệ máu tuôn.

Khuê Tảo ngửa trông lời mực thước,

Tình sâu cá nước tứ thơ còn).

                             (Đỗ Văn Hỷ).

Bài thơ này được thấy chép trong bản thần tích của Đức Phạm Ngũ Lão tại làng Phù Ủng và, trong tập sách Trần Triều Thế Phả Hành Trạng.

Cụ Phạm Quý Thích là người sống ở làng bên, trong dịp viếng thăm đền thờ Ngài đã đề hai câu đối rằng:

Tam triều sự  nghiệp dư biên tại,

Vạn cổ giang sơn nhất sáo hoành.

(Sự nghiệp hiển hách trải ba triều, sử sách hãy còn ghi đó, với một ngọn giáo cầm ngang, ông đã bảo vệ được cả một giang sơn).

Và câu:

Thư sinh diệc hữu thôn Ngưu chí,

Trù trướng di ngâm họa bất thành.

(Kẻ thư sinh này cũng có chí lớn nuốt cả sao Ngưu,

Thế mà muốn họa thơ ông lại không họa được).

Thơ của Đức Phạm Ngũ Lão tuy không còn được nhiều, nhưng khi cụ Ngô Sĩ Liên đưa ra lời bình phẩm về thơ văn đời Trần, thấy cụ chỉ nhắc đến hai nhân vật mà cụ cho là văn võ song toàn: ‘Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Đại Vương thì học vấn tỏ ra ở bài Hịch Tướng Sĩ; Phạm Điện Súy thì học vấn biểu hiện ở câu thơ. Không chỉ có chuyên về nghề võ, thế mà dùng binh lại tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông’. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Bản kỷ, q. 6, tr. 105).

Ngay như sử nhà Nguyên, khi nhắc đến Ngài về những trận đón rước và tiễn đưa hơi mạnh tay, đã gây kinh hoảng cho binh đoàn Nguyên triều nơi biên giới’, cũng vẫn kiêng nể nhất mực gọi Ngài là Phạm Điện Tiền.

Năm Canh Thân, Đại Khánh thứ bảy (1320) tháng mười một, Đức Điện Súy Thượng Tướng Quân đã về thần tại phủ đệ riêng của Ngài, phủ đệ này đã được vua ban thưởng cho trong vườn cau ở kinh thành Thăng Long. Ngài hưởng thọ sáu mươi sáu tuổi. Vua Trần Minh Tông vô cùng thương tiếc, đã truyền cho cả triều đình ngưng thiết triều suốt năm ngày. Đó là một ân điển đặc biệt đối với một công thần, vốn không thuộc vào dòng tôn thất như Ngài.

3.  CON CHÁU VÀ HẬU DUỆ

“Phả đồ hậu duệ của Đô Hồ Đại Vương Phạm Tu” (trang 196 và 202) cho biết: “Lúc Phạm Ngũ Lão mất có thê thiếp 2 người, con gái con trai 6 người 

Như đã dẫn ở trên, bà chính thất của ngài là Thủy Tiên quận chúa, con gái nuôi của đức Trần Hưng Đạo. Bả thứ thất là con gái của một người lái đò trên sông Hát ở châu Diễn (vùng Diễn Châu ngày nay).

Chính sử không ghi Ngài cưới bà thứ thất năm nào. Tuy nhiên, dò tìm trong “Phạm Điện soái tôn thần sự tích”- Thần tích ở Phù Ủng Vọng Bái  Sở - Nam Định do Trần Trứ viết năm 1849 thì có đoạn viết:  “Thời Ai Lao tuấn tượng vạn dư khấu Hoan Diễn…Mệnh Công thảo chi.... Ai Lao tiêu độn (tiễu đào ?). Hồi thi, Công quá Hát giang kiến nhất ngư ông nữ đại duyệt, nghinh quy gia chi vi thứ phòng thậm ái đối chi”. Có nghĩa là “Thời Ai Lao lùa hơn vạn voi chiến sang quấy phá vùng Hoan Diễn…Người nhận lệnh đi chinh phạt…quân Ai Lao rút chạy .Lúc trở về, qua sông Hát, gặp một người con gái ngư ông xinh đẹp, Người lấy làm vợ thứ và đối xử rất yêu quý” .

Quyển “Phạm Đại vương ngọc phả”- tức Thần phả ở đền Phù Ủng ,- có đoạn viết: “Canh Dần lục niên ngũ nguyệt…Ai Lao man do khu tượng vạn dư khấu quán Diễn chư châu…mệnh Vương thảo chi…” có nghĩa là: “Vào tháng 5 năm Canh Dần niên hiệu Trùng Hưng thứ 6….”.

Như vậy ta có thể xác định được Phạm Ngũ Lão lấy bà vợ thứ con gái người đánh cá ở châu Hoan Diễn vào sau tháng 5/1290.

Đó là theo thần phả. Tuy nhiên có một số đoạn trong sử, thì năm đức Phạm Ngũ Lão đánh tan nát hơn mười ngàn voi chiến của Ai Lao là năm 1301 (như đã dẫn ở trên). Khoảng thời gian chênh nhau giữa sử và phả là 10 năm.

Bỏ qua sự chênh lệch này, ta có thể xác định đức Phạm Ngũ Lão cưới bà thứ thất khoảng từ năm 1290 đến 1301.

Như trên đã dẫn, khi mất, Ngài có 6 người con, trong đó, người con trai thứ năm và thứ sáu là con của bà thứ thất.

Gia phả dòng họ Phạm thôn Hương Quế, xã Quế Phú, Quế Sơn Quảng Nam chép : Phạm Ngũ Lão  có 5 ng­­­­ười con trai, nh­ư­­­ng chỉ thấy nói đến ng­ư­­­ời con thứ 5 là Phạm Nhữ Dực, sau rời sang ở xã Lỗi Huyền, phủ Thiệu Thiên, huyện Lôi D­­­­ương (nay là Thọ Xuân) tỉnh Thanh Hoá.

Phạm Nhữ Dực có công đem binh trừ Chế chúa lấy đư­ợc Đại Chiêm và Cổ Luỹ (năm 1400, Hồ Quý Ly  đổi làm Thăng Ba Lộ).

Năm Tân Tỵ (1401), Phạm Nhữ Dực nhận chiếu chỉ của Hồ Hán Thư­­­ơng (niên hiệu Thiệu Thành 2) phong ông làm Chánh đô Ân vũ sứ, phụ trách việc di dân vào đất mới chiếm (Cổ Luỹ, Quảng Ngãi). Lúc nhà Minh xâm chiếm nư­­­­ớc ta đem quân vây Thăng Ba Lộ, ông phải chạy ra An Trư­­­­ờng phía Bắc Quảng Nam, tức mạn bắc sông Thu Bồn, nay thuộc huyện Điện Bàn.

Phạm Nhữ Dực trấn tại Quảng Nam. Ông sinh hai ngư­­­ời con: trư­­­ởng là Phạm Đức Đề, Phạm Đức Đối là con thứ, ông này sau ở lại Đông Tràm, tư­­­ớc phong Kim trì thuỷ bộ thống xuất ch­ư­­ dinh Thư­­­ợng tư­­­ớng quân Đô chỉ huy quân vụ. Con cháu Đồng Tràm đông đảo, trên dư­­­ới là 18 đời đến nay.

Phạm Đức Đề, t­ư­­ớc Đình Th­ư­­ợng Hầu, cũng như­­­ ngư­­­ời em, ông định c­­ư­ tại làng Đồng Tràm, tổng Xuân Phú, huyện Quế Sơn. Khi quân Minh xâm chiếm n­­­nước ta, đem quân vào Thăng Ba Lộ, ông phải bỏ chạy ra An Trư­­­ờng mạn bắc Quảng Nam (phía Bắc sông Thu Bồn nay thuộc huyện Điện Bàn).

Phạm Nhữ Dự là con Đình Thư­­­ơng hầu Phạm Đức Đề và là cháu nội Dực Nghĩa Hầu. Sinh một con trai là Phạm Nhữ Tăng và một gái là Phạm Thị Trào.

Thần tượng Quảng Dương Hầu Phạm Nhữ Tăng

Phạm Nhữ Tăng thi đậu Điện Hoằng Từ khoa, vào triều vua Lê Nhân Tông (1433 – 1459), sau được phong Quảng Dương hầu.Triều Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 2 (1471) được phong Trung quân Đô thống thừ tuyên Quảng Nam, lãnh chiếu di dân Nam tiến. Khi ông mất, thi hài đưa về Hương Quế, nay lăng mộ vẫn còn. Ông sinh đ­ược ba người con trai trai.

Con trưởng là Ngọc Thành Hầu Phạm Nhữ Ngọc.

Con thứ hai là Cai Phủ Thanh Công Hầu Phạm Nhữ Trư­­­­ờng,

Con thứ ba là Cai Huyện Giới Nghiêm Hầu Phạm Nhữ Đa.

Ba ng­ư­­­ời con trai Phạm Nhữ Ngọc, Phạm Nhữ Trường và Phạm Nhữ Đa đã phát triển thành ba chi họ Phạm ở H­ư­­­ơng Quế, ở thôn Đồng Tràm xã Bình Phục huyện Tan Thăng Quảng Nam và từ đó lan toả khắp tỉnh Quảng Nam và trong cả n­ư­­ớc. Phải chăng H­­ư­­ơng Quế – Đồng Trầm là cái nôi, cái gốc lớn của họ Phạm ở phía Nam mà khởi nguồn từ Đức Khởi Thuỷ tổ Phạm Ngũ Lão ở miền Bắc?

Phần giới thiệu trên đây là căn cứ vào cuốn “Dõi tìm tông tích người xưa” của cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ và bản tóm tắt Gia phả họ Phạm H­ương Quế – Đồng Tràm, Quảng Nam.

Gia phả Dòng họ Phạm Công ở Mộ Đức, Quảng Ngãi lại chép: Triệu tổ của họ là Phạm Nhữ Tăng (1422 – 1478) là cháu 7 đời của Phạm Ngũ Lão, cháu 4 đời của Phạm Nhữ Dực. Về quan hệ Phạm Nhữ Tăng với Phạm Nhữ Dực thì thống nhất với phả Hương Quế – Đồng Tràm, nhưng quan hệ Phạm Nhữ Dực với Phạm Ngũ Lão thì khác nhau. Phả Hương Quế nói Phạm Nhữ Dực là con Phạm Ngũ Lão, dường như có sự không phù hợp về tuổi tác. Vì Phạm Ngũ Lão mất năm 1320 là chính xác (chính sử ghi) nên phải ép năm sinh của Phạm Nhữ Dực muộn nhất là khoảng 1320, thành thử các năm 1400, 1401, ông đã ngoài 80 tuổi còn đánh đông dẹp Bắc, lập bao công trạng và được phong là Dực Nghĩa hầu, và khi ông mất năm 1409 đã 90 tuổi, e rằng không phù hợp! Nếu theo phả Mộ Đức thì Phạm Nhữ Dực là chắt của Phạm Ngũ Lão, và có tài liệu của bà con Đà Nẵng nói Phạm Nhữ Dực sinh năm 1342, thọ 68 tuổi, có lẽ hợp lý hơn. Theo phả  Mộ Đức thì con đầu của Phạm Nhữ Tăng là Phạm Bá Tôn (trong khi phả Hương Quế nói là Phạm Đức Đề). Cháu 5 đời của Phạm Bá Tôn là Phạm Công Hiều lập nghiệp tại Mộ Đức vào thời Lê Thế Tông (1573 – 1600) và lập ra dòng họ Phạm Công ở Mộ Đức.

Mười vị võ tướng, văn quan dòng họ Phạm Công phục vụ nhà Tây Sơn :

    1.    Hộ giá cận thần Phạm Ngạn
    2.    Trung Dũng hầu Phạm Văn Trị (người đóng giả vua Quang Trung sang triều kiến vua nhà Thanh)
    3.    Đô đốc Phạm Văn Thuỵ
    4.    Đô đốc Phạm Văn Diên
    5.    Đại đô đốc Phạm Công Trường
    6.    Thái bảo Phạm Văn Tham, Tổng trấn Nam Bộ
    7.    Đô đốc Phạm Công Man.
    8.    Tổng quản Phạm Công Nghệ (tương đương Đô đốc)
    9.    Đô đốc Phạm Công Sang.
    10.  Thái uý Phạm Công Thành (tương đương Đại Đô đốc)

Gia phả dòng họ này còn kể tên 10 vị võ tướng văn quan của dòng họ phục vụ nhà Tây Sơn, trong đó có Phạm Văn Trị (người đóng giả vua Quang Trung sang nhà Thanh) và ghi Thủ tướng Phạm Văn Đồng thuộc đời thứ 15 tính từ đời Ngài Phạm Công Hiều (ở Thi Phổ, Đức Tân Mộ Đức).

Cụ PHạm Văn Nga (măc Triều phục Đại Thần)

Quên quán: Xã Đức Tân, Huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi

Đỗ cử nhân được triều đình Nhà Nguyễn mời ra Huế làm thị giám Học sĩ (Dạy các hoàng tử học). Sau đó giữ chức Tham biện nội các, rồi dạy học cho vua Duy Tân và là Đồng lý văn phòng của vua Duy Tân, được sắc phong Hàm Tam Phẩm. Sau khi mất được triều đình Huế phong Thần.

Cụ Phạm Văn Nga có vợ là bà  Nguyễn Thị  Thuần sinh 9 người con 7 trai 2 gái trong đó có người con trai thứ 8 là cố Thủ tướng PHẠM VĂN ĐỒNG

 

Ngài PHẠM VĂN ĐỒNG nguyên ủy viên Bộ chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, nguyên thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nguyên chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng nước CHXHCNVN

Liên quan đến Phạm Văn Trị còn có dòng họ Phạm ở An Kỳ xã Tịnh Kỳ Sơn Tịnh Quảng Ngãi  và dòng họ này lại liên quan đến dòng họ Phạm Đăng ở Gò Công, Bến Tre có Phạm Đăng Hưng, phụ thân của Thái hậu Từ Dũ Phạm Thị Hằng.

* * *

Cũng theo “Phạm tộc thế phổ” và “Dõi tìm tông tích người xưa” của cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ thì họ Phạm Linh Kiệt ở Diễn Châu và Đô Lương Nghệ An được xem là hậu duệ của người con trai út của đức Phạm Ngũ Lão và người con gái lái đò trên sông Hát. Người con trai út này được cho là ở tại quê mẹ (vùng châu Hoan, châu Diễn, nay là Diễn Châu). Vị Tổ khai sinh họ Phạm Linh Kiệt Diễn Châu là cụ Phạm Thập. Hiện nay có rất ít tư liệu về cụ Phạm Thập, có thuyết cho rằng cụ Phạm Thập là con trai út của Phạm Điện soái, nhưng cũng có thuyết cho rằng cụ là huyền tôn (cháu 4 đời, tức là chắt) của đức Phạm Ngũ Lão.

Lăng mộ Cụ Phạm Thập tại Thôn Tân Đoài, xã Diễn Phúc, Huyện Diễn Châu, NGhệ An

 

Đoàn Gia tộc Phạm Trường làm lễ Nhận Tổ Quy Tông tại Từ Đường Phạm Linh Kiệt Đại Tôn – Diễn Châu, Nghệ An

Lăng mộ Thủy Tổ Phạm Trường Thọ, cháu đời thứ tư của Triệu Tổ Phạm Thập tại làng Bàn Lãnh xã Điện Trung, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam

Đại lễ khánh thành Lăng mộ Thủy Tổ Phạm Trường Thọ

Từ đường Tộc Phạm Trường tại xã Điện Trung, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam

Qua nghiên cứu gia phả của họ Phạm Linh Kiệt, chúng tôi nhận thấy rằng về phát tích,niên đại, cũng như thế hệ truyền lưu đến hiện nay của con cháu nhà này, thì cụ Phạm Thập là cháu 4 đời của đức Phạm Ngũ Lão là đúng. Gia phả Phạm Linh Kiệt ghi cụ Pham Thập gọi bà Cao Thị Bến là Cao, Cao, Cao Tổ tỷ. Danh tánh này cũng trùng hợp với những gì mà Trần Trứ đã viết trong “Phạm Đại vương tôn thần sự  tích” về chuyện gặp nhau của Phạm Điện soái và người con gái chèo đò bên sông Hát. Người con gái đưa đò ấy là Bà Cao Thị Bến, được Phạm điện soái rước về làm thứ thất. Tuy cách ghi gia phả của phạm Linh Kiệt là khác với lệ thường (chỉ ghi mẹ, không ghi cha) song dường như dụng ý của tổ tiên là nhắc nhở con cháu muôn đời phải nhớ mình là con dòng thứ của đức Phạm Ngũ Lão do Tổ mẫu Cao Thị Bến sinh hạ.

Sử sách còn ghi rằng, phàm là họ Phạm ở Diễn Châu Nghệ An đời Trần, Lê thì đều là một nhà, là dòng dõi, tử tôn, con cháu của cụ Phạm Thập.

Tộc Phạm Trường Bàn Lãnh xã chúng ta do Thủy Tổ Phạm Trường Thọ khai sinh. Ngài trước khi vào Nam mở cõi, ở làng Nho Lâm, sau khai phá làng Thọ Xuân (là vùng đất của làng Nho Lâm mở rộng thêm ra) thuộc phủ Diễn Châu.

 (Trích nguyên tích văn tế Tổ của Tộc Phạm Trường:

Tổ tiên ta thời xưa thuở trước

Đất Bắc phần xứ Nghệ nguyên căn

Làng Thọ Xuân Diễn Châu nguyên thủy)

Ngày nay chúng ta không còn nguyên tích gia phả để đối chứng, song so niên đại và tuổi tác, thì Ngài Phạm Trường Thọ là cháu đời thứ tư hoặc có thể là đời thú năm của ngài Phạm Thập.Trong một tài liệu mới nhất vừa được tìm thấy là “Gia Phổ bí ký” của tộc Đỗ Thế Bàn Lãnh xã, do Như Châu cư sĩ Đỗ Thế Ngọc công bố trên cổng thông tin điện tử của Hội đồng toàn quốc Họ Đỗ (đậu) Việt Nam, ghi Ngài Đỗ Long Bảng Thủy Tổ Đỗ Thế tộc cùng Ngài Phạm Trường Thọ lên đường vào Nam vào năm 1527, nguyên văn như sau “ Bắc địa đầu Nam lập nghiệp dữ biểu huynh Phạm Trường Thọ, Nam tiến đăng trình hoàng triều Cung Hoàng, Đinh Hợi niên gian”, nghĩa là “từ Bắc vào Nam lập nghiệp cùng với người anh cô cậu là Phạm Trường Thọ, lên đường Nam tiến vào năm Đinh Hợi, triều vua Lê Cung Hoàng”. Với tư liệu rất quan trọng này, chúng ta có thể kết luận Ngài Phạm Trường Thọ là cháu  gọi ngài Phạm Thập là Cao, Cao, Cao tổ khảo, tức là chắt nội.

Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu 32 dòng họ Phạm cả nước là hậu duệ, hoặc tự nhận là hậu duệ của Điện soái Phạm Ngũ Lão. Danh sách này chắc chắn là chưa đầy đủ (trích nguồn từ tập san nội bộ “Phạm Ngũ Lão: Tổ tiên và hậu duệ” của Ban liên lạc toàn quốc dòng họ Phạm Ngũ Lão việt Nam do PGS, TS, Đại tá Phạm Hồng chủ biên, bản tái bản lần thứ 5)

Danh sách 32 dòng họ Phạm được cho là hậu duệ Điện soái Phạm Ngũ Lão:

1.   Họ Phạm-Đông Thọ, xã Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên

2.   Họ Phạm ở Cốc Tràng Xã Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng

3.   Họ Phạm Ngọc h. Lương Ngọc, Hải Dương

4.   Họ Phạm xã Châu Khê, Bình Giang, Hải Dương (làng có tướng Phạm Sỹ sống thời Điện soái)

5.   Họ Phạm-Đào Quạt, xã Bãi Sậy, Ân Thi, Hưng Yên

6.   Họ Phạm Đăng ở Yên Mỹ huyện Yên Mỹ, Hưng Yên

7.   Họ Phạm Đăng xã Giai Phạm Yên Mỹ, Hưng Yên

8.   Họ Phạm xã Phạm Xá, Yên Mỹ, Hưng Yên

9.   Họ Phạm-Làng Bông, h. Kim Động, Hưng Yên

10.               Họ Phạm xã Xuân Bản, Mỹ Hào, Hưng Yên

11.               Họ Phạm bốn Làng Vy, Thái Bình: Trà Vy, Lại Vy (Kiến Xương), Hữu Vy (Tiền Hải), và Thuận Vy (Vũ Thư)

12.               Họ Phạm ở Lịch Bài, xã Vũ Hòa, Kiến Xương, Thái Bình

13.               Họ Phạm-Tiên Hưng, Phú Lễ, xã Tự Tân, Vũ Thư, Thái Bình

14.               Họ Phạm phố Nam Ngư, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

15.               Họ Phạm phường Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội

16.               Họ Phạm-Làng Chuông, Thanh Oai, Hà Nội

17.               Họ Phạm-Làng Tía, Thường Tín, Hà Nội

18.               Họ Phạm đến từ xã Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội

19.               Họ Phạm thôn Hà Nạn, Hải Phúc, Hải Hậu, Nam Định

20.               Họ Phạm xã Quỳnh Bá, Quỳnh Lưu, Nghệ An

21.               Họ Phạm-Linh Kiệt Diễn Châu, Nghệ An (gồm Phạm  Trường Bàn Lãnh xã)

22.               Họ Phạm-Trà Lộ, xã Hòa Hải, q. Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

23.               Họ Phạm Nhữ-Mân Thái, quận Sơn Trà, Đà Nẵng

24.               Họ Phạm thôn Phước Hưng, xã Hòa Nhơn, Hòa Vang, Đà Nẵng

25.               Họ Phạm ở Hà Thanh, xã Điện Hòa h. Điện Bàn, Quảng Nam

26.               Họ Phạm ở Long Hội, xã Điện Thọ, h. Điện Bàn, Quảng Nam

27.               Họ Phạm xã Cẩm Vân, Điện Bàn, Quảng Nam

28.               Họ Phạm xã Cẩm Sa, Điện Bàn, Quảng Nam

29.               Họ Phạm Nhữ-Hương Quế, xã Quế Phú, Quế Sơn, Quảng Nam

30.               Họ Phạm Nhữ ở thôn Đồng Tràm, xã Bình Phục, Thăng Bình, Quảng Nam

31.               Họ Phạm Công Mộ Đức, Quảng Ngãi (dòng Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng)

32.               Họ Phạm ở Thi Phổ, xã Đức Tân, Mộ Đức, Quảng NgãiVới những tư liệu rời rạc và ít ỏi, chúng tôi đã cố gắng hết sức để tổng hợp, biên khảo và hiệu đính, với mong muốn trình bày một cách rõ ràng thời đại, thân thế và sự nghiệp, cùng gia thế và hậu duệ của đức Phạm Ngũ Lão hiển vinh, một tướng quân văn thành võ đức, nhân nghĩa anh minh, bách chiến bách thắng của dân tộc Việt.

Thật tự hào biết bao cho tộc Phạm Trường chúng ta đươc làm con cháu của Người và các liệt Tổ anh hùng như Đại Thủy tổ Phạm Tu, các viễn Tổ Phạm Chiêm, Phạm Man, Phạm Bạch Hổ, Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng v.v… và làm người bà con cùng dòng thứ  do bà Thái Thủy Tổ tỷ Cao Thị Bến sinh ra, với Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng kính yêu!

Đây là những bề tôi lương đống của xã tắc, những rường cột của nước nhà, những bậc khai quốc công thần, tên tuổi ngàn đời được lưu danh sử sách!

Dòng họ chúng ta đời đời ghi nhớ công ơn của liệt Tổ , liệt tông và đời đời đi trên con đường trung hiếu mà các ngài đã chọn. Theo gương các Ngài chúng ta thể “Tận trung báo quốc”,  vì nước quên thân và không bao giờ, vâng, mãi mãi không bao giờ bán nước cầu vinh!

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song  biên khảo này chắc chắn còn  nhiều thiếu sót và còn rất nhiều điều cần phải bổ sung. Chúng tôi kính mong được bà con các chư tộc dòng họ Phạm Ngũ Lão quang vinh chỉ giáo, góp tài liệu, thần phả, gia phả v.v…để bản khảo cứu này thêm nhiều chi tiết, đầy đủ.

Riêng Gia phả của Họ Phạm Linh Kiệt Diễn Châu Nghệ An (bản nguyên gốc bằng chữ Hán), chúng tôi đã dịch xong, sẽ giới thiệu ở bài tiếp theo. Kế đó, chúng tôi xin giới thiệu Gia phả của dỏng Phạm Công Mộ Đức (dòng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Chúng tôi cũng rất mong được giới thiệu gia phả của tất cả 32 dòng họ hậu duệ Điện soái Phạm Ngũ Lão.

Cuối cùng, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn nhà nghiên cứu lịch sử, tiến sĩ sử học Khả Hãn Nguyễn Nhã đã hết sức nhiệt tình giúp đở chúng tôi để hoàn thành khảo cứu này

Nhằm giúp con cháu trong gia tộc, nhất là các thế hệ thứ hai, thứ ba hiện đang định cư, sinh sống ở nước ngoài hiểu được lịch sử gia tộc, chúng tôi xin giới thiệu bản tóm tắt tiểu sử đức Phạm Ngũ Lão bằng tiếng Anh (nguồn Từ điển bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA). Tuy nhiên, trong bản này, chúng tôi xin phép tác giả được hiệu đính rằng đức Trần Hưng Đạo gả Thủy Tiên công chúa , chứ không phải Anh Nguyên công chúa cho đức Phạm Ngũ Lão

                                             PHẠM TRƯỜNG NGỌC TUẤN

Trưởng tộc đời thứ 16 tộc Phạm Trường, 

Cẩn bút

       Phạm Ngũ Lão

From Wikipedia, the free encyclopedia

.

Phạm Ngũ Lão

Born

1255
Phù Úng, Đại Việt

Died

1320
Thăng Long, Đại Việt

Spouse

Princess Thủy Tiên

House

Trần Dynasty

Phạm Ngũ Lão (1255–1320) was a general of the Trần Dynasty during the reigns of three successive emperors Nhân Tông, Anh Tông and Minh Tông. His talent was noticed by Prince Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn who married his adopted daughter to Phạm Ngũ Lão and recommended him for the royal court. Renowned as a prominent general in battlefield, Phạm Ngũ Lão was one of the few commanders of the Vietnamese army during the second and third Mongol invasion who did not come from the Trần clan. After the war of resistance against the Yuan dynasty, Phạm Ngũ Lão continued to participate in numerous military campaigns of the Trần Dynasty in which he often succeeded. Today, Phạm Ngũ Lão is still considered one of the most capable military commanders of both the Trần Dynasty and history of Vietnam.

Phạm Ngũ Lão

Vietnamese name

Vietnamese

Phạm Ngũ Lão

Hán-Nôm

According to Đại Việt sử kí toàn thư, Phạm Ngũ Lão was born in 1255 in Phù Úng, Đường Hảo, Thượng Hồng (now Ân Thi, Hưng Yên).[1] At the age of about 20, his talent was noticed by Prince Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn who married his adopted daughter, Princess Thủy Tiên, to Phạm Ngũ Lão and also taught him about military knowledge so that he could become a capable general.[2] After that, Prince Hưng Đạo recommended him for the EmperorTrần Nhân Tông who appointed him as commander of right division of the Royal Guard (Thánh dực quân) in May 1290.[3]

During two Mongol invasions

In 1279, the Yuan Dynasty won a decisive victory over the Song Dynasty in the Battle of Yamen which marked the end of Song Dynasty and the total control of Kublai Khan over China.[4] As a result, Kublai Khan started planning the invasions of the southern countries like Đại Việt or Champa. In December 1284, the second Yuan's invasion of Đại Việt was initiated under the command of Kublai Khan's prince Toghan.[5] Đại Việt invasion came in two directions, the infantry, led by Toghan, invaded from the northern border while general Sogetu led the navy from the southern border through Champa's territory.[6]During the war, Phạm Ngũ Lão participated in several battles, notably Battle of Chương Dương where Phạm Ngũ Lão, together with Prince Chiêu Minh Trần Quang Khải and Marquis Hoài Văn Trần Quốc Toản, nearly destroyed general Sogetu's fleet on the tenth day of the fifth lunar month (June 14),[7][8] or Battle of Vạn Kiếp where the general fought under the command of Prince Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn on May 20.[9] Đại Việt's decisive victories ultimately led to the retreat of Toghan's troops one month later.[10]

In 1287, the Yuan Dynasty launched their third invasion of Đại Việt. This military campaign was ended by a disastrous defeat of the Yuan navy in Battle of Bạch Đằng on March 8 of Lunar calendar, 1288.[11] After fighting in Battle of Bạch Đằng, Phạm Ngũ Lão ambushed Prince Toghan's retreating troops, destroying half of the Yuan army.[12] As a results of his battlefield achievements, Phạm Ngũ Lão was promoted to Commander of the Royal Guard after the war(Quản Thánh dực quân).[13]

After the war

During the peaceful period afterwards, Phạm Ngũ Lão continued to have an important role in military activities of Đại Việt.[14]In the military campaign in August 1294 led by the Retired Emperor Trần Nhân Tông in person, general Phạm Ngũ Lão was successful in relieving the troops of Prince Trung Thành trapped by Laotian force, he was awarded a golden badge by this deed of arms.[15] In 1297, Phạm Ngũ Lão had another victory over the troops from Laos[16] and was appointed as commander-in-chief (Hữu kim ngô vệ đại tướng quân) in October 1298.[17] In this position, Phạm Ngũ Lão had continued success in several military campaigns in the western and southern border such as the Battle of Mường Mai against Laotian intruders in 1301[18] or the military campaign against kingdom of Champa in 1318.[19] The general also took charge of putting down a revolt inside Đại Việt in 1302.[20] With many victories in battle, Phạm Ngũ Lão was promoted gradually to Commander-In-Chief (Điện súy thượng tướng quân) of the Đại Việt army, the Emperor also married his daughter as royal concubine[21] and granted a mandarin position for Phạm Ngũ Lão's son, a favour which was usually reserved only for members of royal family.[19] Outside the royal court, Phạm Ngũ Lão was a close friend of Prince Minh Hiến Trần Uất, Trần Thái Tông's youngest prince, and was always ready to help the Prince despite the difference of class between him and Trần Uất.[22]

In November 1320, Phạm Ngũ Lão died in Thăng Long at the age of 66. The Emperor Trần Minh Tông mourned his death by not appearing in court for 5 days, a special dedication for an official who did not come from Trần clan.[2]

Legacy

Phạm Ngũ Lão is considered one of the most able military commanders of both the Trần Dynasty and Vietnamese history. Phạm Ngũ Lão's deeds in the victories over two Mongols invasions and the period of peace and prosperity afterwards made him one of the most prominent figures of the Trần Dynasty who did not come from Trần clan.[2][14][23] Phạm Ngũ Lão was also a poet with several famous poems such as Thuật hoài. Today a main street in Hanoi where the National Museum of Vietnamese History is located,[24] and many places in Vietnam are named in honour of Phạm Ngũ Lão. Most cities in Vietnam, regardless of the political orientation of the government, have named major streets after him.[25] He is still worshipped as a deity, Saint Phạm (Đức thánh Phạm) in several regions of Vietnam,[26] and each year a traditional festival is held in Phù Úng, his native village, to commemorate the feats of Phạm Ngũ Lão

Thông báo việc tộc

THÔNG BÁO CỦA HỘI ĐỒNG GIA TỘC

TỘC PHẠM TRƯỜNG BÀN LÃNH XÃ PHÍA NAM

 

Hàng năm, cứ đến ngày mồng hai tháng Chạp âm lịch, gia tộc Phạm Trường lại long trọng tổ chức đại lễ tưởng niệm ngày đấng Thủy Tổ về trời, tại quê hương Bàn Lãnh xã và các tỉnh phía Nam (Lễ giổ Tổ).

Lễ Giổ Tổ tại Từ đường Tộc cả thôn Đông Lãnh xã Điện Trung

Vào ngày 01/01/2015, Hội đồng gia tộc Tộc Phạm Trường các tỉnh phía Nam đã tổ chức cuộc họp mở rộng với đại diện ba phái để bàn việc tổ chức năm nay. Đông đảo bà con các thế hệ và Trưởng tộc Phạm Trường Ngọc Tuấn đã về dự.

Do ngày mồng hai tháng Chạp âm lịch năm nay rơi vào ngày thứ tư, là ngày hành chánh, có thể sẽ nhiều con cháu bận công tác, học tập; cuộc họp quyết định sẽ tổ chức đại lễ vào ngày 28 tháng 11 âm lịch, nhằm ngày 18 tháng 01 năm 2015, là ngày Chúa nhật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con cháu về thắp nhang viếng Tổ. Cuộc họp bàn sâu về công tác tổ chức, phân công nhiệm vụ, chức trách cho các thành viên.

Bên cạnh đó, nhiều bà con đóng góp ý kiến phân tích rằng mô hình “Ban Trị sự” của gia tộc ở phía Nam không phản ảnh đúng, đầy đủ và toàn diện các mặt hoạt động của bà con. Tại TPHCM và các tỉnh phía Nam hiện nay có đông đủ bà con ba phái sinh sống, có nhiều hoạt động việc tộc phong phú và sôi nổi, công việc đối nội, đối ngoại ngày càng được mở rộng và tăng cường, đã hình thành một cộng đồng vững mạnh, sinh hoạt chặt chẽ, quy củ và bài bản. Do vậy, mô hình “Ban Trị Sự” vừa chồng chéo, nhầm lẫn với chức năng BTS của ba phái, vùa thiếu thẩm quyền cho những người thực thi nhiệm vụ. Nó đã trở thành chiếc áo chật trong công tác tổ chức hiện nay của gia tộc. Từ đó bà con kiến nghị với Trưởng tộc và Hội đồng gia tộc cho đổi chức danh từ “Ban Trị sự gia tộc phía Nam” thành “Hội đồng gia tộc Tộc Phạm Trường phía Nam” nhằm chính danh các hoạt động việc tộc tại cộng đồng này, để được danh chính, ngôn thuận. HĐGT phía Nam vẫn là cơ quan trực thuộc HĐGT tộc cả.

Trưởng tộc Phạm Trường Ngọc Tuấn cho biết ông đồng ý với đề xuất này của cuộc họp và sẽ bàn sâu về phân công, phân nhiệm, chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động, thành phần nhân sự ...với ông Chủ tịch HĐGT tộc cả trong chuyến tham dự giỗ Tổ của ông Phạm Trường Hiền tại TPHCM.

Vậy HĐGT Tộc Phạm Trường phía Nam trân trọng thông báo và kính mời tất cả bà con bổn tộc nội, ngoại, dâu, rễ ở các tỉnh phía Nam như Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Tiền Giang về dự lễ giổ Tổ

Địa điểm: Tại nhà ông Phạm Trường Quang Sự số: 1/1B khu phố 1, phường Tân Thới Nhất, quận 12 TPHCM.

Thời gian: Vào lúc 08g sáng ngày 28 tháng 11 âl nhằm ngày thứ tư 18 tháng 01 năm 2015.

Thông báo này thay thế thư mời

        Vì lòng hiếu kính với Tổ tiên, vì đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, vì tình đoàn kết thiêng liêng với gia tộc, kính mong bà con về dự đông đủ.

Ban tổ chức vô cùng vinh dự được đón tiếp!

             TM Hội đồng Gia tộc Tộc Phạm Trường phía Nam

                                                   Chủ tịch

                         

                               

Thứ bảy ngày 17 tháng 01 năm 2015

(ngày 27 tháng 11 âm lịch):

- 07g30 đến 11h bà con ba phái tập trung để thiết kế và trang trí lễ đài, dựng rạp, treo bandroll, khẩu hiệu, cờ phướng, cờ hội phục vụ đại lễ.

- 013g30 đến 15g: tiếp tục những phần việc còn lại của buổi sáng.

- 15 giờ: Chủ tịch HĐGP Phạm Trường Sáu, Chủ tịch HĐGT Phạm Trường Hiền, Trưởng tộc Phạm Trường Ngọc Tuấn kiểm tra công tác chuẩn bị.

- 17 giờ: Lễ Túc Yết Tiên Thường: Chánh tế Ô Phạm Trường Quang Sự.

- 19 giờ : Bộ phận Học trò lễ tổng dợt : Ông Phạm Trường Đào, ông Trần Công Tân chỉ đạo, Ông Phạm Trường Hiền duyệt.  Ô  Phạm Trường Sáu, Ô Phạm Trường Ngọc Tuấn làm việc với bộ phận xướng và đọc chúc văn.

Chủ Nhật 18 tháng 1 -2015 ( ngày 28 tháng 11 âl)

- Từ 07g30 đến 08g00: Quan khách và Bà con tề tựu.

- Từ 08g00: Đại lễ theo nghi thức truyền thống:

        + Khởi chinh cổ (Đánh chiên: Ô Phạm Trường Liêu, đánh trống Ô Phạm Trường Duy, 3 phút)

+ Chào cờ Họ Phạm Việt Nam (Hợp xướng, 05 phút)

        + Thượng niệm Thượng Thủy Tổ Phạm Tu (Hợp xướng, 10 phút)

        + Lễ Tế âm linh: (Chánh tế Ông Phạm Trường Quang Sự; xướng Ông Phạm Trường Sinh, đọc văn Ông Phạm Trường Tú, 20 phút)

+ Đại lễ đồng tế Ngài “Đoan Túc, Đôn Ngưng, Linh Phù, Dực Bảo Trung Hưng khai khẩn Phạm Trường Thọ Đại lang tôn thần, Thành Hoàng Phủ Quân Bàn Lãnh xã, Thủy Tổ khai sanh Tộc Phạm Trường” [Chứng minh: Ông nguyên Trưởng tộc Phạm Trường Chỉnh, Ông Chủ tịch HĐGP Phạm Trường Sáu; Chánh tế: Ông Trưởng tộc Phạm Trường Ngọc Tuấn; Đồng tế: Ông Chủ tịch HĐGT tộc cả Phạm Trường Hiền đứng gian phái Nhì (tả phân hiến), Ông Đích tôn phái ba Phạm Trường Tấn đứng gian phái Ba (hửu phân hiến); xướng: Ông Phạm Trường Sinh; đọc chúc văn Ông Phạm Trường Tú; giúp việc: Ban nhạc lễ và Học trò lễ; 45 phút]

        + Dâng hương tưởng niệm Thủy Tổ (Đại biểu và bà con thân tộc nội, ngoại, dâu, rể; 15 phút)

        + Lễ tất : 09.28 phút.

- Từ 09g30: LỄ TƯỞNG NIỆM THEO NGHI THỨC HIỆN ĐẠI (Điều hành: Ông Phạm Trường Tú)

- Giới thiệu Đại biểu, quan khách, bà con thân tộc về tham dự (Ông Sự)

- Thông điệp của Ông Phạm Trường Ngọc Tuấn (Trưởng tộc)

- Phát biểu của Ông Chủ tịch HĐGT Phạm Trường Hiền

- Phát biểu của Ông Chủ tịch HĐGP Phạm Trường Sáu (nếu có)

- Phát biểu của Ông P.Chủ tịch HĐ Họ Phạm Việt Nam kiêm Chủ tịch HĐ Họ Phạm Việt Nam ở phía Nam BS Phạm Văn Căn.

- Phát biểu của Đại tá Phạm Quốc Khánh đại diện bà con của tộc Phạm Trường tại đất tổ Diễn Châu-Nghệ An.

- Trao quà “Chúc mừng năm mới” cho các cụ cao niên (Ông Hiền, Ông Sự, Ông Ngọc Tuấn trao).

- Trao quà “Chúc mừng năm mới” cho các vị đại biểu (Ông Chỉnh, Ông Sáu, Ông Hiền trao)

- Phát thưởng cho các sinh viên, học sinh giỏi năm học 2013-2014 (Ông Ấn, ThS BS Phạm Trường Sơn, ThS DS Phạm Trường Nam trao)

- Tuyên dương Chuẩn Tiến sĩ Phạm Trường Mỹ Hạnh (Ông Ngọc Tuấn)

- Đại diện SV, HS giỏi phát biểu cảm ơn và tuyên hứa (SV Phạm Trường Thanh Tâm)

- Kết thúc lúc 11 giờ.

LIÊN HOAN THỌ LỘC: Từ 11g đến 12g.

- Từ 12g BTC cảm ơn và tiển Đại biểu, Quan khách, cháu ngoại ra về.

- Cháu nội trai ở lại để rút kinh nghiệm công tác tổ chức và nghe báo cáo công khai tài chánh của BTC (Ông Ấn chủ trì).

Lịch sử gia tộc

CÔNG BỐ VĂN BẢN CỦA THẾ HỆ THỨ 12 VỀ

 

LỜI BAN BIÊN TẬP: Từ năm 1943 về trước, gia tộc chúng ta, dù phải trải qua nhiều biến động của lịch sử, song vẫn còn giữ được Tộc phả cùng một số bút tích của các thế hệ bề trên để lại. Gia tộc đã vô cùng cẩn thận, lập ra chức “Thủ bổn” để chuyên lo giữ  các sắc phong của Triều đình, gia phả, văn tự, bút tích của cha ông để lại. Năm 1943, nhà của Ngài Thủ Quán giữ chức Thủ bổn thì bị cháy, nên toàn bộ các văn bản nói trên bị thiêu rụi! Chúng ta mất đi nguyên tích gia phả từ đó!

Sau đó, nước nhà chìm trong khói lửa chiến tranh do thực dân Pháp xâm lược nước ta. Làng quê phải lo tản cư, chạy giặc. Vì lẽ đó, các thế hệ cao niên không có thời gian để tái tu gia phả. Mãi đến năm 1958, thế hệ thứ 12 mới tổ chức phụng tái tu và giao cho cụ Phạm Trường Sơn (Ngài tên húy là Sơn, tên tự là Tu, tên bà con ta gọi là Hương Nhung) chấp bút (phụng tả). Công trình bắt đầu từ năm Mậu Tuất 1958 đến năm Kỷ Hợi 1959 thì hoàn thành.

Đáng tiếc, trong chiến tranh Giải phóng miền Nam, gia phả phụng tái tu lại bị thất lạc lần nữa. Những câu chuyện về gia tộc chỉ còn trong trí nhớ của một số vị cao niên, rồi đi vào “tam sao, thất bản”!

Thật bất ngờ và vô cùng hạnh phúc, sau khi gia tộc tổ chức xây lăng mộ cho Phạm Phủ Quân, Thủy tổ đã ban xuống hồng ân, Ngài đã chỉ cho Trưởng tộc thứ 16 Phạm Trường Ngọc Tuấn tìm được một đoạn văn bản quan trọng của gia phả phụng tái tu năm 1958 mà thế hệ thứ 12 để lại, do cụ Tổ Hương Nhung phụng tả.

Ngay sau khi tìm được tài liệu vô cùng quan trọng này, căn cứ bản phiên của cụ Cố Phạm Trường Đình Vinh, Trưởng tộc Phạm Trường Ngọc Tuấn đã dịch từ chữ Hán ra tiếng Việt, rồi từ tiếng Việt sang tiếng Anh để bà con ta trong và ngoài nước biết rõ cội nguồn và làm cơ sở cho việc thống nhất một số nhận thức... do “tam sao , thất bổn” để lai.

Được sự đồng ý của Trưởng tộc, Ban Biên Tập www.tocphamtruong.com trân trọng giới thiệu tài liệu quý trên nhân tưởng niệm 369 năm ngày mất của Phạm Phủ Quân.

Kính mời bổn tộc tham khảo, nghiên cứu và đóng góp ý kiến cho bản dịch của Trưởng tộc.

Cụ Tổ Phạm Trường Sơn, tên tự là Tu, tên thường gọi là Hương Nhung, người “văn hay chữ tốt” được thế hệ thứ 12 Tộc Phạm Trường giao nhiệm vụ chấp bút phụng tái tu gia phả, để lại cho muôn đời con cháu mai sau biết rõ cội nguồn.

 

BẢN CHUYỂN NGỮ SANG TIẾNG VIỆT CỦA

PHẠM TRƯỜNG NGỌC TUẤN

Đấng Thủy Tổ của chúng ta đến từ miền Bắc. Người đi vì việc binh, bình định biên cương trên vùng đất giáp với Chiêm Thành. Sau khi tan binh lửa, đến thăm một vùng đất, thấy cảnh vật hoang vu, nhưng địa thế khác thường, Người trụ lại khai khẩn, mở mang ruộng đất, tạo nên làng nước, lập thành bộ tịch non sông, trở thành một phần lịch sử của khu Phù Kỳ (vùng đất Gò Nổi), bên cạnh giòng sông Thu Bồn. Người đã tạo thành bổn xã (Bàn Lãnh xã, nay là di tích) bắt đầu từ những ngày cực kỳ gian khổ, khó khăn, thiếu thốn trăm bề và đầy hiểm nguy như diệt trừ ác thú, hùm beo, rắn rết, muỗi mòng…biến vùng hoang vu thưa vắng bước chân người thành vùng đất đai trù phú, để lại cho muôn đời con cháu mai sau. Con cháu ngàn đời sau phải nhớ công ơn Tổ phụ, đi đâu, ở đâu, làm gì, cũng phải tưởng vọng về quê cha, đất tổ, không được đổi thay lòng

Ngài trở thành Tiên hiền khai khẩn, sinh cơ lập nghiệp tại đây và sinh hạ ba vị quý tử được người đời sau trân trọng tuyên xưng danh hiệu “Quý Công”, sau này trở thành ba vị Tổ phái (của dòng họ ta, cũng chính là ba vị Hậu hiền).

Đệ nhất lang: Phạm Quý Công Phạm Trường Hùng, đệ nhất Tổ của phái Nhất

Đệ nhị lang: Phạm Quý Công Phạm Trường Hoằng, đệ nhất Tổ của phái Nhì

Đệ tam lang: Phạm Quý Công Phạm Trường Thiệu, đệ nhất Tổ của phái Ba.

Ba anh em cùng thế hệ (thứ nhì) sau khi Cha mất, luôn luôn đoàn kết , yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, chăm lo phát triển cơ nghiệp của Cha để lại, lãnh đạo nhân dân vun bồi đất mới, tăng gia sản xuất,trồng các loại cây lương thực thực phẩm và phát triển các loại hình tiểu thủ công nghiệp. Đồng thời gìn giữ phả hệ (nguyên gốc xuất phát từ đất Bắc),bút tích, lời hay, ý đẹp của người Cha để lại nhằm răn dạy con cháu muôn đời. Vì nước nhà gặp thời loạn lạc, binh lửa nhiều phen, nên phả hệ bị mai một, bút tích của Cha ngày ấy không còn lưu giữ được nữa. Nhưng ba anh em vẫn cố gắng bảo tồn bằng cách sao chép những gì còn có thể giữ được.

Đến năm Đinh Hợi 1947, giặc Pháp lại xâm chiếm nước ta lần thứ hai. Chúng đốt cháy đình làng, thiêu hủy nhà cửa, làng mạc. Gia phả cũng như toàn bộ văn tự, sắc phong bị đốt cháy thành tro, không còn cách nào truy cứu từng người, từng thế hệ trong gia tộc.

Đến năm 1958, thế hệ thứ 12 tổ chức phụng tái tu gia phả cho con cháu mai sau hiểu biết về cội nguồn và huyết thống để khỏi thắc mắc, sửa chữa thêm bớt mà phạm tội bất hiếu, bất kính với chư vị tiên linh. Con cháu mai sau phải lấy phả ý này làm gốc, rồi cập nhật bổ sung các thế hệ kế tiếp để đời đời nối dòng huyết hệ, làm cho dòng máu tộc ta được lan tỏa đến muôn đời.

Năm Kỷ Hợi 1959

Phạm Trường Sơn (tức Phạm Tu)

Phụng tả

Sau đây là bản chuyển ngữ sang tiếng Anh của Phạm Trường Ngọc Tuấn

Trưởng tộc Phạm Trường Ngọc Tuấn (thế hệ thứ 16) khấn xin Tổ tiên và Cụ Tổ Phạm Trường Tu, cụ Cố Phạm Trường Đình Vinh cho hậu thế đời thứ 16  biên dịch đoạn gia phả này sang tiếng Anh nhằm đáp ứng yêu cầu của con cháu đang sinh sống ở nước ngoài.

 

First Patriarch of us came from the North, He went for the military, to pacify the border with Champa

After the war, he went to a wastelands,but terrain is weird.He stopped to exploit, expansion the land, forming villages,to become a part of historyof GO NOI next to the Thu Bon river. He created the BanLanh village starting from the hard, difficulties and dangerous works  such as  eradicate the evil beast, tigers, leopards, snakes, mosquitoes … from a land not inhabited, become the fertile land left for childrenchildren tomorrow. Children tomorrow must always remember this deep gratitude,  although where, do anything, all right towards the homeland, not fade affection.

He became the first sage clearing, settled here and born three sons, later known as the three noblemen, they also are called the  sage  following, the first ancestors of three groups  in our family

-  Eldest son: Pham Noble, Hung PhamTruong: The frist ancestor of first group

- Second son: Pham Noble, Hoang PhamTruong: The first ancestor of second group

- Third son: Pham Noble, Thieu PhamTruong: The first ancestor of third group.

After father's death, three brothers same his generation, always unity, love, closely associated together and led villagers to develop land, take care of production, to plant crops food, development of handicraft. They always keep genealogy, writings, meaningful prose sublime, meaning beautiful of words leaving by father.Because the country has gone through many wars, so genealogy lost, writtings of father nor retained, but three brothers still trying to preserve by copying what leftover. By the year of the Đinh Hợi, in 1947, the French invaded our country for the second time. They burned the village commun house, homes and village, so genealogy, texts, papers ordained were burned to ashes, so there is no way to know each person, each generation of the family.

Until Mau Tuat year, 1958, 12th generation held rewrite genealogy to make children tomorrow understanding of the origin and lineage, no wonder, fix, additions that guilty of disloyalty to the ancestors. Posterity should take this as the original tree, and update adds the next generation blood, making the blood flow is spread  forever.

Hình ảnh
KHÁNH THÀNH LĂNG MỘ

Hình ảnh Miếu Tam Vị
Hình ảnh Mộ Tiên Hiền
Ảnh nhà thờ tộc Phạm Trường
HỌ PHẠM
Lá cờ họ Phạm Việt Nam
Logo họ Phạm Việt Nam
Ảnh đô hồ đại vương Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm
Mộ Phạm Tu
 
 

Bản quyền thuộc về Hội đồng gia tộc họ Phạm Trường - Bàn Lãnh Xã.
Ghi rõ nguồn "www.tocphamtruong.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ ông Phạm Trường Ngọc Tuấn - ĐT: 0938 956 186Phạm Trường Hiền - ĐT: 0905 064064,

Phạm Trường Giang - ĐT: 0918 19 66 77.

E-mail : paulovvtuan@yahoo.com.vn

Designed by Viet Pho Co., Ltd.