MỜI QUÝ VỊ VÀO THẮP HƯƠNG CHO NGÀI THỦY TỔ - TỘC PHẠM TRƯỜNG
Họ và tên :    Ở tại :    Hình ảnh : hình ảnh
Chia sẻ :
NGƯỜI MỚI THẮP HƯƠNG
————————————
11:46 - 13/12/2017
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
Ở tại: GIA LAI
THỐNG KÊ : Số người đã thắp hương ngày hôm nay : 3 - Tổng số lượt thắp hương : 67.182
 
THỐNG KÊ
Trực tuyến : 64
Số lượt truy cập : 1.573.435
Tìm về cội nguồn     Lịch sử gia tộc
Cập nhật 12:14' 11/07/2012
THỜI MỞ CÕI

THỜI MỞ CÕI

 

LỜI BAN BIÊN TẬP:  Từ ngày Ngài thủy tổ vào Nam khẩn đất, lập làng, khai sanh tộc Phạm Trường, Ông cha ta đã lập nên tộc phả, ghi lại cội nguồn, sự tích, công đức, truyền thống …của dòng họ để lưu lại cho con cháu muôn đời. Ghi nhận công lao mở cõi to lớn của Tổ tiên ta với nước, với dân vương triều Nguyễn đã từng ban sắc phong thần, một đạo sắc phong “Thành hoàng bổn cảnh Đại lang chi thần” năm Minh Mạng 1820, và đạo sắc phong “Dực bảo trung hưng linh phò tôn thần” năm Khải Định 1924 cho đấng Tiên hiền khai canh, thủy tồ tộc Phạm Trường, tộc danh là Phạm Trường Thọ, tự Đại Đức, hiệu Đại Đức, thụy hiệu Đại Đức. Các đạo sắc nầy, đã được cha ông ta thờ tại đình làng, có phân công thủ đình coi giữ cẩn thận. Còn Tộc phả được bảo quản tại Từ đường, cũng phân công thủ từ coi giữ. Tuy nhiên, do bị chiến tranh, nhất là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Pháp, “cây đa mô cao cho bằng cây đa Bàng Lãnh” cùng đình  làng bị giặc phá rụi, các đạo sắc phong thần bị thất lạc. Từ đường tuy còn, nhưng trải qua chiến tranh cũng bị ảnh hưởng, trở thành hoang phế, rồi trải qua mưa nắng thời gian của thiên nhiên khắc nghiệt miền Trung, Tộc phả cũng bị rách nát, loang lổ, úa màu. Người cuối cùng giữ được một phần tộc phả là cụ Hương Nhung, thế hệ thứ 12, phái nhì. Đến thời “chống Mỹ cứu nước”, giặc Mỹ cày ũi, san làng ta thành bình địa, đưa làng ta về thời…mở cõi, cụ Hương về với Tổ tiên, tộc phả cũng bị thất lạc theo Người!

Từ đó, mọi câu chuyện về lịch sử dòng họ ta chỉ còn tồn tại trong trí nhớ. Những sự thật, đôi khi chỉ còn một nửa. “Một nửa của sự thật, không phải là sự thật”. Chính vì lý do nầy, hậu duệ đích tôn đời 16, phụng mệnh các vị tiền bối của gia tộc đời thứ 13 như các đức ông Phạm Trường Ngôn, Phạm Trường Diết, ông trưởng tộc đời thứ 15 Phạm Trường Chỉnh, quý nội thúc phụ Phạm Trường Hiền, Phạm Trường Thành trong Hội đồng gia tộc, đã nghiên cứu, biên sọan lại lịch sử của gia tộc ta thời mở cõi, hầu chứng minh thời đại, thân thế và sự nghiệp của Tổ tiên ta, nhằm lưu lại cho muôn đời con cháu mai sau biết rõ cội nguồn!

Kễ từ hôm nay, ban biên tập Website www.tocphamtruong.com khởi đăng lọat bài “THỜI MỞ CÕI” của ông Phạm Trường Ngọc Tuấn, hậu duệ đích tôn đời 16 với quyền thừa kế trưởng tộc. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, biên khảo nầy ít nhiều gì cũng sẽ còn sơ sót, bởi lẽ đây là việc làm rất khó. Rất cần những nghiên cứu thêm, những đóng góp thêm, những tiếng nói thêm của bà con bổn tộc để công trình được hòan hảo, đáp ứng được kỳ vọng của họ hàng ta.

Ban biên tập không quên cảm ơn các ông Phạm Trường Hiền, Phạm Trường Thành Chủ tịch và P. Chủ tịch HĐGT đã hết sức quan tâm chỉ đạo, giúp đở, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hòan thành nhiệm vụ nầy!

 

 

BÀI MỘT:

 

LỊCH SỬ CÁC CUỘC NAM TIẾN

CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

1. Từ cuộc Nam tiến đầu tiên

Theo sử xưa sách cũ, dân tộc Việt Nam ta có nguồn gốc từ các bộ tộc Bách Việt. Các bộ tộc này, chiếm từ miền Nam sông Dương Tử (Trung Hoa) xuống phía Nam, bắc giáp Động Đình Hồ, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Đông, Nam giáp Chiêm Thành. Trong quá trình sinh tồn, Bách Việt bị các bộ tộc phía Bắc dồn xuống phía Nam, và dần dần bị thu hẹp lại, từ “Bách Việt”, chỉ còn năm nhóm Việt tộc được tổ chức theo hình thức quốc gia, là Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Tây Việt và Lạc Việt.

 

 

Sơ đồ khu vực người Lạc Việt cư trú và lập nên nhà nước Văn Lang


Trong năm quốc gia Việt tộc trên , thì Lạc Việt di chuyển sâu xuống phương Nam nhất (miền Bắc Việt Nam cho đến giáp giới với Chiêm Thành), nhờ địa thế, sông núi , đất đai , phong thổ riêng mà tránh được sự đồng hóa của Hoa hạ, lập nên  nhà nước sơ khai đầu tiên là nhà nước Văn Lang, với quốc tổ là Hùng Vương, kinh đô là Phong Châu, nhân dân là các bộ tộc, dưới quyền cai quản của chính quyền là các Tù trưởng, Lạc tướng, Lạc hầu. Lạc Việt chính là cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Thời điểm dân tộc Việt lập quốc là năm 2879 trước Công nguyên.

Tuy nhiên, cho dù có giữ được bản sắc riêng , thành lập được nhà nước riêng, cuối cùng thì trước sức ép quá lớn của các triều đại phong kiến Trung Hoa, Lạc Việt cũng bị Bắc thuộc từ thời Thục Phán-An Dương Vương (208-179 trước Công nguyên), chịu cảnh “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”. Mặc dầu trong thời kỳ nầy có vô vàn các cuộc khởi nghỉa đã nổ ra để dành độc lập, điển hình như các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Bôn, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế v.v…nhưng mãi cho đến thế kỷ thứ mười, bằng chiến thắng vang dội của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán, dân tộc ta mới chấm dứt được cảnh ngàn năm Bắc thuộc, trở thành nhà nước độc lập, lảnh thổ gồm các tỉnh phía Bắc đến Nghệ An ngày nay (nhưng vẫn phải triều cống).

 

 

Chiến thắng vang dội của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng

trước quân Nam Hán, mở ra thời kỳ độc lập đầu tiên

 

2. Đến các cuộc Nam tiến tiếp theo.

Tuy dành được độc lập, song sự đe dọa của phương Bắc mãi mãi vẫn còn, nguy cơ bị làm nô lệ lần nữa, thậm chí mất nước là điều luôn đươc ông cha cảnh giác. Muốn tồn tại và phát triển để bảo tồn nòi giống và quốc thổ, bảo tồn bản sắc riêng để không bị đồng hó với Trung Hoa, không có con đường nào khác là con đương Nam tiến.

Lúc bấy giờ, ở phía Nam nước ta là nước Lâm Ấp. Lâm Ấp, lúc ấy là  một quốc gia hùng mạnh, lập quốc từ thế kỷ thứ hai, với lành thổ phía Bắc giáp nước ta trải dài đến Phan Rang, Bình Thuận, Nam giáp Chân Lạp; nhiều lần muốn thóat ly ảnh hưởng của các thiên triều Trung Hoa, tự mình xưng đế. Để mở mang bờ cõi, Lâm Ấp cũng nhiều lần đem quân xâm lấn nước ta trong những năm từ 347 đến 800. Năm 808, nhà Đường đem quân tấn công, Lâm Ấp bị bại, phải rút về Quảng Nam, Quảng Ngải ngày nay, đổi quốc hiệu là Chiêm Thành, đặt kinh đô tại Trà Kiệu.

Tuy vậy, Chiêm Thành cũng không từ bỏ tham vọng xâm chiếm nước ta. Và do vậy, trải dài suốt lịch sử, những cuộc chiến luôn nổ ra trong quan hệ giữa hai nước láng giềng!

 

. NHỮNG CUỘC CHIẾN GIỮA TA VÀ CHIÊM THÀNH

 

Thời nhà Đinh:

 

 

Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, đặt quốc đô tại Hoa Lư- Ninh Bình

 

 

Đinh Tiên Hòang

 

Sau khi dẹp lọan 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hòang đế, đặt quốc đô tại Hoa Lư, Ninh Bình. Ngô Nhật khánh là một sứ quân thuộc dòng dõi Ngô Quyền không cam tâm chịu thua, chạy vào Chiêm Thành cầu viện. Năm Kỹ Mão 979, Nhật Khánh được vua Chiêm cấp cả ngàn chiến thuyền cùng quân lính tiến đánh kinh đô Hoa Lư. Song khi chiến thuyền vào đến cửa bể Đại Ác và Tiểu Khang, thì gặp bão tổn thất nặng nề, sau đó bị quan quân nhà Đinh chặn đánh, giết đươc Nhật Khánh và tướng Chiêm. Đó là trận thắng đầu tiên trong lịch sử chiến tranh giữa hai nước từ khi Ngô Quyền dành độc lập.

 

Thời nhà Tiền Lê:

 

 

Tượng thờ vua Lê Đại Hành

 

Vua Lê Đại Hành lên ngôi, có sai sứ sang Chiêm Thành giao hảo. Nhưng vua Chiêm bắt giam sứ. Đại Hành hòang đế hạ lệnh xuất binh Nam phạt Chiêm Thành trả thù rửa hận. Quân ta tiến thẳng đến kinh đô nước Chiêm. Vua Chiêm hàng phục, xin thần phục và triều cống hàng năm.

 

Thời nhà Lý:

 

 

Lý Thường Kiệt phá Tống, bình Chiêm

 

Trong khỏang thập niên đầu nhà Lý, Chiêm Thành không chịu triều cống nước ta, không những thế, còn vài lần sang đánh phá. Mùa Thu năm 1044, Lý Thái Tông ngự giá thân chinh đánh chiếm kinh đô Trà Kiệu của Chiêm quốc, bắt được vua Chiêm là Xạ Đẩu và ba vạn tù binh cùng nhiều chiến thuyền và voi, ngựa. Nước Chiêm lại chịu thần phục và triều cống như cũ. Đến thời Lý Thánh Tông lên ngôi với hùng tài đại lược và tầm nhìn viễn kiến, ý đồ mở đất về phía Nam đã rõ (các cuộc chiến tranh trước đó không có ý đồ chiếm đất, chỉ là trừng phạt để bắt thần phục mà thôi). Năm 1069, Lý Thánh Tông đích thân ngự giá thân chinh cầm binh đánh Chiêm Thành, sai Lý Thường Kiệt thống lãnh tam quân và đi tiên phong. Đạo tiên phong của đại tướng quân Lý Thường Kiệt đánh đâu thắng đó, tiến thẳng đến kinh đô, bắt đươc vua Chiêm là Chế Củ. Chế Cũ xin dâng ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (tức vùng Quảng Bình và Bắc Quảng Trị ngày nay) để quy hàng! Đến năm 1103, Chiêm Thành tưởng rằng đã mạnh, đem quân đòi lại ba châu này. Vua Lý Nhân Tông bèn sai Lý Thường Kiệt đem quân vào đánh dành lại ba châu.

 

Thời nhà Trần:

 

 

Đòan thủy quân của vua Trần Thái Tông tiến thẳng về kinh đô Chàm

 

 Ở vương triều Trần, đời Trần Thái Tông, năm 1252 vua Chiêm lại đòi đất và cử binh sang quấy phá. Nhà vua đích thân cầm quân đi đánh và thắng lợi trở về.

Thời kỳ nầy để lại cho lịch sử dân tộc những trang đầy bùi ngùi và cảm xúc nhất với cuộc hôn nhân vì nghĩa lớn, đó là việc vua Trần Nhân Tôn gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân để đánh đổi việc Chế Mân dâng hai châu Ô và châu Lý làm sính lễ (1306).

 

 

Công chúa Huyền Trân.

Dân tộc Việt Nam mãi nhớ ơn người liệt nữ đi mở cõi:

“ Nước non ngàn dặm ra đi,

cái tình chi, mượn màu son phấn, trả nợ Ô, Ly!”

 

 Vua Trần Nhân Tông đổi tên hai châu ấy thành Thuận châu và Hóa châu (tức Nam Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay), di dân đến khai khẩn làm ăn sinh sống. Sau khi Chế Mân chết, công chúa Huyền Trân được giải cứu trở vè, Chiêm Thành lại sang đòi đất và nhiều cuộc chiến đã diển ra. Cũng trong giai đọan này, nuớc Chiêm Thành có vua mới là Chế Bồng Nga, một vị vua anh dũng, thiện chiến, muốn báo quốc thù, đã khởi động nhiều cuộc chiến làm nhà Trần khốn đốn!

 

 

Nàng công chúa lá ngọc cành vàng, rời cung son điện ngọc về Chiêm.

Xin hậu thế suy ngẫm và chia sẻ nổi lòng của các vua Trần:

“Hai châu Ô, Lý muôn nghìn dặm, một gái Huyền Trân đáng mấy mươi”

 

Năm 1376, Chế Bồng Nga đưa quân sang đánh Hóa Châu, Vua nhà Trần là Trần Duệ Tông đích thân cầm binh kháng cự. Năm 1377, Trần Duệ Tông đem quân đánh thẳng vào kinh đô Đồ Bàn của Chiêm quốc bị thua to, nhà vua “chiến tử sa trường”, quân ta phải rút về nước. Từ đó nhà Trần suy yếu. Nhân cơ hội đó, năm 1378, Chế Bồng Nga đem quân đánh thẳng vào Thăng Long. Đến năm 1380 lại sang quấy phá ở vùng Thanh, Nghệ! Năm 1384, Chế Bồng Nga với dã tâm rất lớn, muốn “dứt điểm” Đại Việt. Ở trận quyết chiến chiến lược này, Chế Bồng Nga  bị Trần Khắc Chân giết tại Hưng Yên, quân Chiêm đại bại. Mất đi vị vua anh dũng tài ba, Chiêm Thành suy sụp, trong nước có nội lọan, hai con của Chế Bồng Nga sang Đại Việt nương nhờ, được nhà Trần phong tước hầu.

 

Thời nhà Hồ:

 

 

                               Hồ Quý Ly

 

Hồ Quý Ly lên ngôi thay thế nhà Trần, sai quan hành khiển là Đỗ Mãn đem quân đi đánh Chiêm Thành, nhưng do nước lụt, phải rút quân về. Năm 1402 , Hồ Hán Thương lên ngôi, tháng 7 lại sai Đỗ Mãn cầm quân đánh Chiêm, vua Chiêm Ba Đích Lại thua, xin dâng lễ vật và dâng đất Chiêm Động, Cỗ Lũy  để cầu hòa. Hồ Hán Thương cho làm con đường huyết mạch từ Thanh Hóa đến Hóa châu, chia đất Chiêm Động, Cổ Lũy thành 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt chưc quan cai trị là An Phủ sứ. Năm 1404 nhà Hồ cho đào con sông từ Tân Bình đến Thuận Hóa tạo điều kiện dể dàng cho việc giao thông, chiêu mộ dân đến đất mới khẩn làng lập ấp. Dân vào khai khẩn, được sung vào quân đội. Khi không có biến thì làm ruộng, khi có chiến tranh thì trở lại quân đội để chiến đấu bảo vệ đất đai.

Năm 1407, quân Minh sang đánh, cha con Hồ Quý Ly đại bại, nhà Minh hỗ trợ Chiêm Thành lấy lại Chiêm Động và Cỗ Lũy. Từ 1407 đến 1446,  Chiêm Thành làm chủ đất này.

 

Nhà hậu Lê:

 

 

Tượng thờ vua Lê Thánh Tông

 

Sau cuộc khởi nghĩa mười năm kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hòang đế mở ra triều đại Hậu Lê. Lúc bấy giờ, ngở rằng nhà hậu Lê bị kiệt quệ sau mười năm kháng chiến, Chiêm Thành lại đem quân sang xâm lấn nước ta. Liên tiếp trong các năm 1434, 1444, 1445 (đời vua Lê Thái Tông) Chiêm Thành đem quân cướp lại Hóa châu nhưng đều bị nhà Trần đánh bại. Đến đời vua Lê Thánh Tông, năm 1470, quân Chiêm đem mười vạn hùng binh đánh vào Thận Hóa. Lê Thánh Tông ngự giá thân chinh chống giặc, và mở cuộc tổng tấn công to lớn đánh thẳng vào kinh đô Đồ Bàn. Năm 1471, nhà vua tiến tới kinh đô Chiêm quốc, hạ thành Đồ bàn, bắt sống được vua Chiêm là Trà Tòan cùng muôn vạn tù binh.

 

 

Thạch bi sơn tại Phú Yên ghi dấu chiến công của

vua Lê Thánh Tông

“ Tường thành cũ, phiến bia xưa,

hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay!”

 

Nhà vua lấy đất của Chiêm Thành đến tận Phú Yên (ngày nay), cho khắc bia trên núi ở Phú Yên (gọi là Thạch Bi sơn) phân làm ranh giới Việt Chiêm, với đất Việt từ Phú Yên trở ra Bắc, đất Chiêm từ sau núi Thạch bi vào đến Phan Rang, Phan Rí, Bình Thuận (ngày nay). Đồng thời, để làm suy yếu hẳn Chiêm Thành, nhà vua chia đất đai còn lại của Chiêm quốc làm ba nước nhỏ là Chiêm Thành, Hoa An, Nam Phan, đặt ba vua cai trị và bắt triều cống cho nước ta hàng năm. Từ đó Chiêm Thành suy yếu hẳn, không còn khả năng quấy phá nước ta.

Tuy nhiên, lịch sử không dừng tại đó. Khi nhà hậu Lê suy yếu, xảy ra chuyện Nam Bắc phân tranh. Nguyễn Kim phò nhà hậu Lê nắm tất cả binh quyền. Khi Nguyễn Kim chết, con rễ là Trịnh Kiểm lên thay, có ý muốn diệt  hậu duệ Nguyễn Kim để trừ hậu họan. Trước tình hình đó, Nguyễn Hòang là con Nguyễn Kim, nhờ chị là  Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm), xin với Trịnh Kiểm cho vào Nam để trấn thủ Thuận Hóa

 

 

Năm Chính Trị thứ nhất 1558, đời vua Lê Anh Tông (tức Lê Duy Bang 1556-1573), Nguyễn Hòang được chiếu vào Nam trấn giữ Thuận Hóa, và từ đấy, dòng chảy của lịch sử trở nên ồ ạt với công cuộc mở đất phương Nam, thống nhất cơ đồ, xây dựng giang sơn Đại Việt cho đến mũi Cà Mau.

 

. CÁC CHÚA NGUYỄN  HÒAN THÀNH CÔNG CUỘC NAM TIẾN MỞ RỘNG GIANG SƠN

 

-                     Đến năm 1578, Nguyễn Hòang đã thiết lập bộ máy cai trị xứ Đàng Trong hòan chỉnh đến Phú Yên.

                     

              

Đoàn quận công Nguyễn Hòang và tầm nhìn mở cõi về đất phương Nam.

 

-                  Năm 1653, vua Chiêm là Ba Tằm lại quấy nhiểu, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai quân đánh dẹp, tiến qua Thạch Bi sơn, chiếm đất Chiêm Thành đến tận Phan Rang, lập ra hai phủ Thái Khang (Ninh Hòa) và Khang Ninh (Diên Khánh), bắt phần còn lại của Chiêm Thành giữ lệ cống.

-                     Năm 1692, vua Chiêm là Ba Tranh không chịu cống, chúa Nguyễn Phúc Chu sai quân đi đánh, bắt Ba Tranh về Phú Xuân, lấy đất Chiêm làm trấn Thuận Thành, sau đổi thành Bình Thuận đặt quan cai trị, bắt cho dân Chiêm thay đổi y phục theo người Việt.

-                     Năm 1696, chúa Nguyễn Phúc Chu đổi trấn Bình Thuận thành phủ Bình Thuận, lại lấy nốt phần đất còn lại của Chiêm Thành lập huyện Yên Phúc và Hòa Đa, đặt bộ máy cai trị. Từ đấy Chiêm Thành bị mất nước!

 

 

Chiêm Thành mất nước: “Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu, thành quách đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu!”

 

Khi lấy xong nước Chiêm, tầm nhìn của các chúa nguyễn lại hướng về đất phương Nam.

       Phương Nam , lúc bấy giờ là nước Chân Lạp đất rộng người thưa. Chúa Nguyễn Phúc Chu giao hảo, gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp, rồi từ đó, qua Ngoc Vạn, xin cho dân ta sang Chân lạp buôn bán giao thương làm ăn sinh sống đến tận Sài Côn nay là Sài Gòn. Đối với Chân Lạp, nước nầy thường bị Xiêm La ở phía Tây quấy nhiễu, nên cũng muốn dưa vào chúa Nguyễn đễ có thể cầu viện khi bị ngoại xâm.

 Năm 1642 Chân Lạp bị nội lọan, chúa Nguyễn Phúc Tần ra tay can thiệp, đưa quân vào dẹp lọan. Kết quả là được vua Chân Lạp nhường cho đất Biên Hòa.

 

 

Văn miếu trấn biên Biên Hòa Đồng Nai:

“Thành đồng Tổ quốc mãi mãi vẻ vang

Hào khí Đồng Nai đời đời rực rỡ”

 

           Năm 1679, các tướng nhà Minh là trấn thủ Quảng Tây Dương Ngạn Địch, và tổng binh Cao, Lôi, và Liêm châu là Trần Thượng Xuyên vì không muốn quy hàng nhà Thanh, nên đem binh sang xin quy phục chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần nhận lời dung nạp, cho Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên ở Biên Hòa.

          Lại có một cựu thần nhà Minh là Mạc Cửu, cũng không muốn làm hàng thần của Thanh triều, nên đem quân sang Chân Lạp khai khẩn đất Phú Quốc, Cần Bột, Gia Khê, Luống Cày, Cà Mau lập nên Hà Tiên thất xã. Năm 1708, Mạc Cửu quy phục chúa Nguyễn, được chúa phong cho chức Tổng binh Hà Tiên. Dưới sự lảnh đạo của cha con Mạc Cửu, Hà Tiên trở nên phồn thịnh, trở thành miếng mồi ngon của Chân Lạp, Xiêm La. Năm 1739, Chân Lạp cho quân đánh Hà Tiên, chúa Võ vương sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Chân Lạp. Kết quả Chân Lạp thua trận, phải cắt dâng đất Gia Định, Gò Công, Tân An (ngày nay) để xin cầu hòa.

 

 

Non nước Hà Tiên ngày ấy, bây giờ!

 

         Năm 1756, Chân Lạp lại có nội lọan. Người của hòang thất Chân Lạp là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên, nhờ Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu ) xin chúa Nguyễn giúp đở. Chúa Nguyễn cử binh, đưa Nặc Tôn về làm vua Chân Lạp. Để đền ơn, Nặc Tôn dâng đất Vĩnh Long, Tân Châu, Sa Đéc, Châu Đốc (ngày nay) cho chúa Nguyễn, đồng thời cũng tặng  cho Mạc ThiênTích đất đai . Mạc Thiên Tích đều dâng đất cho Chúa Nguyễn. Từ từ, nước Chân Lạp bị suy yếu. Và lảnh thổ Việt Nam đã được mở đến tận mũi Cà Mau. Các Chúa Nguyễn đã hòan thành công cuộc Nam tiến thu giang sơn về một mối!

 

 

Dòng chảy  công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam.

Nhà Nguyễn là vương triều cuối cùng mở rộng cơ đồ, thu giang san về  một mối:

Non sông muôn thửơ vững âu vàng”!

 

Phạm Trường Ngọc Tuấn ( sưu tầm và biên khảo)

 

 

Gởi cho bạn In bài
HỌ PHẠM
Lá cờ họ Phạm Việt Nam
Logo họ Phạm Việt Nam
Ảnh đô hồ đại vương Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm
Mộ Phạm Tu
 
 

Bản quyền thuộc về Hội đồng gia tộc họ Phạm Trường - Bàn Lãnh Xã.
Ghi rõ nguồn "www.tocphamtruong.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ ông Phạm Trường Ngọc Tuấn - ĐT: 0938 956 186Phạm Trường Hiền - ĐT: 0905 064064,

Phạm Trường Giang - ĐT: 0918 19 66 77.

E-mail : paulovvtuan@yahoo.com.vn

Designed by Viet Pho Co., Ltd.