MỜI QUÝ VỊ VÀO THẮP HƯƠNG CHO NGÀI THỦY TỔ - TỘC PHẠM TRƯỜNG
Họ và tên :    Ở tại :    Hình ảnh : hình ảnh
Chia sẻ :
NGƯỜI MỚI THẮP HƯƠNG
————————————
11:46 - 13/12/2017
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
Ở tại: GIA LAI
THỐNG KÊ : Số người đã thắp hương ngày hôm nay : 3 - Tổng số lượt thắp hương : 67.182
 
THỐNG KÊ
Trực tuyến : 65
Số lượt truy cập : 1.573.436
Tìm về cội nguồn     Lịch sử gia tộc
Cập nhật 11:46' 17/07/2012
THỜI MỞ CÕI: Từ THẠCH BI SƠN ĐẾN HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI

            THỜI MỞ CÕI

Bài 2:

T      THCH BI SƠN

ĐN   HOÀNH SƠN NHT ĐÁI

 

. Từ Thạch bi sơn (núi bia đá)…

 

Như bài một đã trình bày, với chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán, Ngô Quyền đã khởi đầu nền độc lập của nước ta, chấm dứt cảnh ngàn năm Bắc thuộc. Từ đấy, như một định mệnh, quá trình dựng nước, mở mang bờ cõi của dân tộc Việt, là quá trình tiến xuống phương Nam. Từ các vương triều Đinh, Lê, Lý Trần Lê và cuối cùng là nhà Nguyễn, dân tộc ta đã mở rộng giang san từ ải Nam quan đến mũi Cà Mau!

Tuy nhiên, nếu nghiên cứu kỹ, chúng ta sẽ thấy, ở các triều đại Đinh, tiền Lê, chưa thật sự là cuộc chiến dành dân, lấn đất, mà chỉ là những cuộc chiến trả đủa nhằm khẳng định uy thế trước những cuộc quấy phá của quân Chiêm. Và những lần thua trận, dâng đất cầu hòa của  vua Chiêm Thành cũng chỉ là những giải pháp tình thế, sau đó, bằng biện pháp nầy hay biện pháp khác, người Chiêm cũng đánh phá hòng dành lại đất. Và cứ thế, hai bên tiếp tục giằng co nhau. Đến đới nhà Lý, năm 1069, cuộc đánh trả của vua Lý Thánh Tôn đã bắt được vua Chiêm là Chế Củ giải về Thăng Long, nước Chiêm xin dâng ba châu Địa lý, Ma Linh và Bố Chánh để cầu hòa, biên giới Việt Chiêm nới rộng đến đèo Ngang.

 

 

Đèo Ngang và sông Gianh nhìn từ không ảnh vệ tinh

“Lồng lộng trời cao muôn dấu hỏi, hai châu Ô, Lý một Huyền Trân

…Vì lợi cho dân, tình đem lại  mà cân…cay đắng trăm phần...!”

 

 Từ đó hai nước yên ổn, đến năm 1036 nghĩa là 237 năm sau, bằng cuộc hôn nhân lịch sử (mà các sử gia thế giới cũng thừa nhận là độc nhất vô nhị trong lịch sử quốc tế), mà Thượng hòang Trần Nhân Tôn gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Lý làm sính lễ, việc di dân vào khẩn hoang vùng đất “hồi môn” mới được thục hiện. Hai châu Ô, Lý tức là tỉnh Quảng Trị và phần phía Bắc tỉnh Quảng Nam (gồm TP Đà Nẵng, Hòa Vang, Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên ngày nay.) Năm 1306, Công chúa Huyền Trân bước qua đèo Ngang để về Chiêm. Bước chân lịch sử của Bà đã nới rông biên giới Đại Việt đến sông Thu Bồn. Đất Quảng Nam bắt đầu hình thành từ đó.

Sông Thu Bồn nhìn từ không ảnh vệ tinh

 

 

Cầu Kỳ Lam bắt qua sông Thu Bồn. từ Vĩnh Điện về, qua khỏi cầu là vào Gò Nổi với Điện Quang(bên phải cầu) và Điện Trung-_Bàng Lãnh Xã (bên trái)

 

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau thì Chế Mân chết, nhà Trần tổ chức giải cứu Huyền Trân công chúa đưa về Đại Việt, người Chiêm lại khởi quân đánh ta đòi lại đất, nhất là dưới thời vị vua anh dũng  Chế Bồng Nga (1360-1384).  Cho đến khi Chế Bồng Nga bị tướng Trần Khắc chân giết 1384, thì từ đó, nước chiêm suy sụp. Năm 1402, cha con Hồ Quý Ly- Hồ Hán Thương đánh Chiêm, thu được Chiêm Động và Cỗ Lũy, tức là từ Nam Quảng Nam ( gồm Thăng Bình, Quế sơn, Tiên Phước, Núi Thành, Tam Kỳ) đến Quảng Ngãi ngày nay, chiêu mộ dân đến khẩn làng, lập ấp, biên giới Đại Việt đến hết tỉnh Quảng Ngải.

 

 

Dấu tích Chàm vẫn còn nơi Cổ Lũy cô thôn

 

Tuy nhiên năm 1407 nhà Minh đưa quân sang đánh, cha con Hồ Quý Ly đại bại, Chiêm Thành lấy lại đất cũ. Đến đời hậu Lê, năm 1470 vua Lê Thánh Tông sau nhiều lần bị quân Chiêm khiêu khích, đã hạ chiếu bình Chiêm, dùng danh tướng Lý Thường kiệt đi tiên phong, năm 1471 tiến thẳng đến kinh đô Đồ Bàn bắt được vua Chiêm là Trà Tòan cùng vô số tù binh, voi, ngựa. Vua Chiêm dâng đất đến Phú yên ngày nay để cầu hòa. Vua Lê Thánh Tông cho dựng bia trên núi ở Phú Yên gọi là Thạch bi sơn (núi bia đá) để xác định biên giới . Như vậy, đến năm 1471 biên giới Đại Việt  đến  Phú Yên ngày nay.

 

 

Các thế hệ trẻ hôm nay tìm đến Thạch bi sơn để tưởng nhớ công ơn người mở cõi

 

Vậy có thể thấy trong khoảng thời gian 165 năm, từ 1306 đến 1471,là những cuộc di dân Nam tiến dưới đời nhà Trần (di dân đến hai châu Ô, Lý), đời nhà Hồ (di dân đến Chiêm Động, Cổ Lũy) đời hậu Lê (đến Phú Yên).

 

Các dòng họ từ Bắc vào Nam mở cõi cũng hình thành từ những cột mốc này. Và, cũng từ đó, những nhầm lẩn của chư tộc đã diển ra!

Mặc dầu sau vua Lê Thánh Tông công cuộc mở cõi tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, nhưng trong phạm vi bài nầy, chúng tôi muốn dừng lại tại Thạch bi sơn để phân tích về việc hình thành các dòng họ “mới” ở xứ dàng trong, vào giai đoạn này.

Qua tham khảo của chúng tôi trên những trang web các gia tộc ở Quảng Nam, thấy đa số tộc phả cuả các họ đều ghi có thủy tổ vào Nam từ thời Lê Thánh Tông, có họ ghi vào Nam năm 1400.

Điều ấy sẽ không có gì đáng nói, nếu không có nghịch lý diển ra, là số đời (thế hệ) truyền đến nay lại không quá 20 đời! Có nghĩa là tính số năm vào Nam của ngài thủy tổ với số thế hệ truyền tử lưu tôn không khớp nhau về mặt thời gian (năm nay là năm 2012). Đến đây, để làm rõ, chúng tôi xin dừng lại một chút để bàn về một đời, một thế hệ là bao nhiêu năm ?

 

. Một thế hệ là bao nhiêu năm?

 

 

Tác phẩm có năm trăm năm như thế…của Tiến sĩ Trần Trung Tú

 

Theo nghiên cứu của các nhà gia phả học Việt Nam, đặc biệt gần đây nhất  trong tác phẩm “Có 500 năm như thế: Bản sắc Quảng nam nhìn phân kỳ lịch sử” NXB Thời Đại và Phương Nam Book tháng giêng 2011, tiến sĩ Hồ Trung Tú đã tổng kết rằng một thế hệ có độ dài trung bình là 23,5 năm. Bằng cách nghiên cứu các gia phả Việt nam qua các thời kỳ, tính thời gian từ ngài thủy tổ là đời thứ nhất lập họ cho đến thời điểm nghiên cứu,  chia cho thế hệ cuối cùng cho đến thời điểm nghiên cứu, người ta được số năm trung bình của một thế hệ, của một dòng họ. Xong, lấy tiếp trung bình của những…trung bình trên, ta được con số là 23,5 năm chung cho các dòng họ ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu như trên tuy đơn giản nhưng về phương pháp luận lẩn cách tính là rất chặt chẽ và độc lập với những thời đại lịch sử dù sao cũng có tính mơ hồ nhất định do việc ghi chép tam sao thất bổn.

Hiển nhiên là, con số trung bình này không phải là con số chính xác tuyệt đối, nhưng nó là cột mốc để con số chính xác “dao động” không xa con số trung bình này. Nghiên cứu nầy đã được hầu hết các tộc họ Việt Nam công nhận là …có lý và được chấp nhận trong tính tóan của các họ tộc hiện nay. Còn sai số là bao nhiêu, tùy thuộc rất lớn vào đặc thù của các dòng họ, nhưng dù gì thì gì, sai số này không thể lớn hơn một thế hệ, tức lớn hơn 23, 5 năm.

 

 

Hai thế hệ cha con người đi mở cõi. Theo cách tính phổ biến

hiện nay, khỏang cách giửa hai thế hệ là 23,5 năm

 

 Bây giờ, quay trở lại với sự nhầm lẫn có tính phổ biến chung của các gia tộc ở Quảng Nam là lấy thời vua Lê Thánh Tông mở đất xuống tận Phú Yên để làm năm thủy tổ vào Nam. Đó là năm 1471. Nếu tính từ ngày ấy đến bây giờ (2012), là đã trải qua 541 năm. Lấy 541 năm chia cho 23,5 năm ta được 23 đời. Những gia tộc hiện nay chỉ có từ 16 đến 18 đời, như vậy, đã mất ít ra là 5 đời tức khỏang 117 nắm. 117 năm ấy đi đâu? Thật khó có thể giải thích được, vì số thế hệ truyền tử lưu tơn là điều không thể nào nhầm, và cũng không thể có nhà “sử gia… tộc” nào có thể ghi một cách tùy tiện!!! Thật vậy, dù cố biện minh như thế nào đi nữa, và trên thực tế, người viết bài nầy đã đọc được một số biên khảo khá công phu, khá hòanh tráng của một số nhà sử gia…tộc, rất xứng đáng là một công trình nghiên cứu khoa học để nhằm chứng minh cụ thủy tổ của họ mình “bắc địa tòng vương”vào Nam dưới thời Lê Thánh Tông “thảo phạt Chiêm Thành” xong rồi ở lại khẩn làng lập ấp; nhưng những công trình ấy cũng không sao lý giải được tại sao dòng họ lại mất đi 117 năm không truyền tử lưu tôn (dòng họ bị thiếu 5 thế hệ).???

Chỉ có thể có một lý giải duy nhất, đó là có sự nhầm lẫn diển ra khi ghi chép triều vua. Phải chăng, có sự nhầm lẫn giửa triều vua Lê Thánh Tông  Lê Anh Tông (có sách chép là Lê Ánh Tông). Muốn biết sự tthật thế nào, xin hảy theo dỏi tiếp phần dưới đây

 

. Đến Hòanh sơn nhất đái, vạn đại dung thân

 

 

Hòanh sơn nhất đái

 

 

Đèo Ngang và Hòanh sơn

 

Sự thật là, ở nhà hậu Lê, Lê Thánh Tông là vị vua đức độ, anh minh, văn vỏ tòan tài, công lao và sự nghiệp của ông vô cùng hiển hách, sự đóng góp của ông cho dân tộc vô cùng to lớn ở nhiều phương diện chính trị, kinh tế, quân sự văn hóa giáo dục, luật pháp v.v…Triều hậu Lê cũng là triều đại trị vì dài nhất trong lịch sử nước ta với 355 năm chia làm hai thời kỳ là Lê sơ 99 năm (1428-1527) và Lê mạt  còn gọi là Lê Trung hưng 256 năm (1533-1781).

Cuối thời Lê sơ, một danh tướng công thần là Nguyễn Kim đươc phong tước An thành hầu. Khi nhà hậu Lê bị nhà Mạc lấy ngôi, Nguyễn Kim trốn lên Sầm Châu (Thanh Hóa giáp Lào) chống lại nhà Mạc. Sau đó, ông tìm đươc con vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh đưa về làm vua hiệu là Lê Trang Tôn (1533-1548). Nguyễn Kim được vua phong làm Thái sư Hưng quốc công, nắm tất cả binh quyền. Năm 1545 Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà họ Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc giết chết thọ 77 tuối được vua Lê Trang Tông phong làm Chiêu Huân tỉnh vương. Nguyễn Kim có hai con là Nguyễn Uông và Nguyễn Hòang. Nhằm thu đọat binh quyền của nhà họ Nguyễn, Trịnh Kiểm là con rể Nguyễn Kim đầu độc giết chết Nguyễn Uông.

 

 

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh khiêm ban cho Đoan quận công

Nguyễn Hòang tám chữ “Hòanh sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

 

Trịnh Kiểm chiếm tòan bộ quyền hành do Nguyễn Kim để lại. Người con thứ là Nguyễn Hòang rất sợ bị Trịnh Kiểm giết nốt, bèn đến xin ý kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Được cụ trạng cho tám chữ “Hòanh sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Nguyễn Hòang tỉnh ngộ bèn nhờ chị là Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm, xin với Trịnh Kiểm cho đi trấn thủ miền Thuận Hóa. Kiểm cho rằng cũng nên đưa Nguyễn Hòang rời xa kinh đô để ngừa hậu họan, vì vậy , Kiểm tâu với vua Lê cho Nguyễn Hòang vào Nam trấn giữ Thuận Hóa vào năm Mậu Ngọ 1558 niên hiệu Chính Trị thứ nhất đời vua Lê Anh Tông.

 

 

Đoan quận công Nguyễn Hòang phụng chiếu vua Lê Anh Tông vào Nam  trấn thủ Thuận Hóa

 

 

Sau khi phụng chiếu, Đoan quận công Nguyễn Hòang giong buồm vào Nam

 

Phải chăng, do có sự na ná đồng âm giữa hai vị vua, mà sau này, các nhà sử gia tộc ghi nhầm???

 

 Và từ đấy, lịch sử sang trang…

 

Ngài Thủy tổ tộc Phạm Trường vào Nam năm nào?

 

Khi Đoan quận công Nguyễn Hòang vào Nam, dân đồng hương của ông tức là dân Thanh Hóa, và rộng ra là cả vùng Thanh Nghệ, Hải Dương cũng theo ông ồ ạt vào Nam. Lý do là vào lúc ấy, miền Thanh Nghệ bị thiên tai, mất mùa dân thiếu đói nghiêm trọng, trong khi đó phía Nam là vùng đất mới, đất rộng, người thưa, đất đai màu mở, sản vật phong phú. Kễ từ đó, một làn sóng di dân liên tục đổ vào những miền đất mới từ Quảng Nam vào trong, lập làng, mở họ, xác định chủ quyền quốc gia…

 

 

Khi chúa Nguyễn Hòang vào Nam, một làn sóng di dân

theo bước chân Người, từ đó lảnh thổ nước ta cũng được

mở thêm nhiều vùng đất mới

 

Trong làn sóng di dân nầy, chắc chắn có Ngài Phạm Trường Thọ kính yêu, Thủy tổ của Tộc Phạm Trường!

Tại sao lại dám nói như vậy?

Vì căn cứ vào số thế hệ của tộc hiện nay, tộc chúng ta đã truyền tử lưu tôn được 18 đời. Như vậy không thể nói Ngài thủy tổ vào Nam dưới thời Lê Thánh Tông được (ít ra phải là 23 đời, như cách tính ở trên).

Vậy, Ngài vào Nam từ năm nào?

Bây giờ, việc xác định chính xác năm Ngài vào Nam là không thể. Tuy nhiên, căn cứ vào cách tính chung hiện nay như đã dẩn ở phần trên, chúng ta có thể tính như sau:

Bước một, lấy số năm trung bình của một thế hệ Việt Nam 23,5 năm nhân cho 18 đời ta được 423 năm. Lấy 2012 là thời điểm viết bài này, trừ 423 năm ta được năm Ngài vào là 1589. (1)

Bước hai, lấy 23,5 năm nhân cho 14 thế hệ (là thế hệ trước khi Ông Trưởng tộc đời 15 lên kế nghiệp) rồi cọng với 81 năm (là số tuổi ông TT thọ hiện nay) ta đươc 410 năm. Lấy 2012 trừ cho 410 ta được 1602 là năm Ngài thủy tổ vào Nam.(2)

Bước ba, như đã dẩn ở phần trên, cách tính lấy trung bình theo số năm trung bình và số thế hệ có thể phạm sai số một thế hệ (điều này rất có lý vì nhiều khi một em bé của gia tộc mới được sinh ra, vẫn phải tính cho em một thế hệ, nhưng trên thực tế em chỉ mới một tuổi, chưa tròn một thế hệ).  Vậy, để hiệu chỉnh (1), ta lấy 1589-23, sẽ được số 1566. Đây là năm Ngài vào Nam sau khi đã hiệu chỉnh theo cách tính của bước một

Lại tiếp tục hiệu chỉnh cách tính ở bước hai bằng cách lấy 1602 trừ 23 năm , ta được 1579 là năm Ngài vào Nam theo cách tính bước hai.

Chênh lệch giửa bước một và hai là : 1579- 1566=13 năm

Giửa hai cách tính có độ chênh là 13 năm.

Vậy có thể nhận định, tổ phụ ta vào Nam trong khỏang thời gian từ 1566 đến 1579. Con số trung bình giũa hai năm nầy là 1572.

Khi không thể nhận định chính xác  là năm nào, chúng ta, thôi thì, chấp nhận con số trung bình là 1572 cho “thuận trên, vừa dưới”.

 

 

Gian khổ buổi đầu mở cõi

 

Đến đây, hậu duệ đích tôn xin đề nghị chấp nhận năm 1572 là năm Tổ phụ vào Nam. Xin cẩn thưa với các đấng, bậc bề trên và tòan gia tộc để xin ý kiến chung của tộc họ chúng ta, hầu đi đến kết luận cuối cùng.

Vả lại, trong tài liệu “Truyền thống làng Bàng Lãnh Xã…..”, cũng có ghi năm Ngài vào Nam là năm 1572. Điều đáng tiếc, tài liệu không ghi nguồn trích xuất của số liệu nầy. Nhưng qua những gì chúng tôi chứng minh ở trên, có thể tin rằng số liệu trên là hợp lý. Thêm nữa, con số nầy cũng rất khớp với cuộc phát động “Tiến tới kỷ niệm 445 năm ngày thành lập làng Bàng Lãnh Xã và khai sinh dòng họ Phạm Trường” mà Trưởng tộc đời thứ 15 và Hội đồng gia tộc nhiệm kỳ này đã trình trước bổn tộc tại lễ Thanh Minh năm 2012.

Đến đây, chúng tôi xin kết thúc bài hai. Kính mời đón đọc bài ba “Theo chân người mở cõi: Đường thiên lý”

 

 

Phạm Trường Ngọc Tuấn

Gởi cho bạn In bài
HỌ PHẠM
Lá cờ họ Phạm Việt Nam
Logo họ Phạm Việt Nam
Ảnh đô hồ đại vương Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm
Mộ Phạm Tu
 
 

Bản quyền thuộc về Hội đồng gia tộc họ Phạm Trường - Bàn Lãnh Xã.
Ghi rõ nguồn "www.tocphamtruong.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ ông Phạm Trường Ngọc Tuấn - ĐT: 0938 956 186Phạm Trường Hiền - ĐT: 0905 064064,

Phạm Trường Giang - ĐT: 0918 19 66 77.

E-mail : paulovvtuan@yahoo.com.vn

Designed by Viet Pho Co., Ltd.