MỜI QUÝ VỊ VÀO THẮP HƯƠNG CHO NGÀI THỦY TỔ - TỘC PHẠM TRƯỜNG
Họ và tên :    Ở tại :    Hình ảnh : hình ảnh
Chia sẻ :
NGƯỜI MỚI THẮP HƯƠNG
————————————
11:46 - 13/12/2017
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
Ở tại: GIA LAI
THỐNG KÊ : Số người đã thắp hương ngày hôm nay : 3 - Tổng số lượt thắp hương : 67.182
 
THỐNG KÊ
Trực tuyến : 66
Số lượt truy cập : 1.573.432
Tìm về cội nguồn     Lịch sử gia tộc
Cập nhật 09:49' 26/07/2012
THỜI MỞ CÕI: ĐƯỜNG THIÊN LÝ

THI M CÕI

Bài 3:

ĐƯỜNG THIÊN LÝ

.LƯỢC SỬ ĐƯỜNG THIÊN LÝ

Đường Cái quan còn gọi là đường Quan lộ, đường Quan báo, đường Thiên lý [1], đường xuyên Việt; nay chính là Quốc lộ I A, chạy dài từ km 0 tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan (Lạng Sơn) đến km 2301 + 340m tại thị trấn Năm Căn (Năm Căn, Cà Mau) trên lãnh thổ Việt Nam. Được hình thành dưới thời nhà Lý và kéo dài cho đến tận thời Nguyễn, đường cái quan đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong kinh tế cũng như quốc phòng. Nó góp phần to lớn trong công tác quản lý đất nước, do vậy nhà Nguyễn đã đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng và phát triển tuyến đường huyết mạch này.

 

Ở buổi đầu dựng nước và sau đó, Việt Nam là một nước chuyên về nông nghiệp, nhân dân chỉ sống trong vòng kinh tế “tự cung tự cấp”, nếu cần giao lưu từ vùng này sang vùng khác người ta thường sử dụng đường thủy. Song về mặt quản lý lãnh thổ, nhà nước vẫn phải có đường để nối liền các địa phương, vì thế đường bộ Việt Nam đã ra đời. 


Trước khi có đường Cái quan, dưới thời Lý Thái Tông (ở ngôi: 1028-1054), ở Việt Nam đã có hệ thống đường Quan lộ. Mỗi tuyến đường được chia ra từng cung, có cắm biển gỗ để chỉ phương hướng, có người cai quản, và đặt nhà trạm (tức dịch trạm, cách nhau khoảng 15-20 km), chủ yếu là để chuyển công văn [2], tài vật từ kinh đô đi khắp nơi và ngược lại, đồng thời làm nơi nghỉ chân của các quan lại triều đình trên đường công cán.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, thì đường Cái quan chính thức được xây dựng vào năm Ất Mão (1375), dưới thời Trần, để nối liền kinh thành Thăng Long với Thanh Hóa. Đến thời Hồ, vào năm 1402, con đường được đắp tiếp vào đến Châu Hóa (Huế).
Năm Tân Mão (1471), vua Lê Thánh Tông dẫn quân đi bình Chiêm. Sau chiến thắng Chà Bàn, đạo thừa tuyên Quảng Nam thừa tuyên được thành lập vào tháng 6 (âm lịch) năm đó. Để tiện việc coi giữ, nhà vua đã cho tổ chức lại hệ thống giao thông liên lạc thông suốt từ Thăng Long cho đến phủ Hoài Nhơn (Bình Định) bằng đường bộ.

Năm Mậu Ngọ (1558), Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm đất Thuận Quảng, tiếp theo là xảy ra cuộc tranh giành thế lực giữa họ Trịnh và họ Nguyễn (sử cũ gọi là thời Trịnh-Nguyễn phân tranh), kéo dài suốt 2, 5 thế kỷ. Để phục vụ cho chiến tranh, con đường này đã được đôi bên cho sửa sang, mở rộng. Sau đó, đường Cái quan được nối dài theo sự nghiệp mở nước về phương Nam của dân tộc Việt, và vào khoảng 1757 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, con đường vào đến đất Hà Tiên.

Năm 1792, chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long) đã cho đắp đường từ Mỹ Tho qua giồng Kiến Định và bắc cầu Quỳ Tông. Trong năm này, ông đã huy động dân binh đắp đường thiên lý phía nam từ Gia Định dọc theo giồng cát xuống Trấn Định, qua Thủ Đoàn, giồng Cai Yến, giồng Tha La, giồng Kỳ Lân, giồng Cai Lữ, giồng Trà Luộc, giồng Cai Lễ, giồng Thủ Triệu, Cái Thia... Hai bên đường thiên lý đặt nhiều quán trạm.

 

(Trích website vngarden.com)

 

 

Diệu viễn quan san đường thiên lý

 

. THEO CHÂN NGƯỜI MỞ CÕI TRÊN ĐƯỜNG THIÊN LÝ

 

Ở bài hai, chúng tôi đã ước định thời gian Tổ phụ chúng ta vào Nam là trong khỏang từ năm 1566 đến 1579. Đó là khỏang thời gian có rất nhiều biến động lịch sử diễn ra. Đó là những năm giữa thế kỷ thứ 16, khi mà ở “Đàng trong”, miền đất mới đang vẫy gọi, nhiều hứa hẹn với mưa thuận gió hòa, đất rộng, người thưa, nhiều nơi còn hoang vu chưa được khai phá, thì ở “Đàng ngoài” đất hẹp người đông, lại liên tiếp bị thiên tai, liên tục mất mùa. Từ năm Kỷ Mùi 1559 đến năm Mậu Thân 1608, vùng Thanh Nghệ năm thì bị lụt tàn phá nặng nề, gây cảnh thiếu đói khủng khiếp, năm thì hạn hán nghiêm trọng, giá gạo đắt, dân nghèo bỏ quê xiêu tán khắp nơi!

Trong bối cảnh đó, dân Thanh Nghệ vâng chiếu vua Lê : “ Xứ Ô châu, người Chiêm Thành bỏ đi hết. Phàm dân các nơi, ai không có nhà cửa, ruộng vườn, của cải, nếu mộ được nhiều người đến tụ tập cày bừa, đợi đủ số đinh lập được xóm làng, mới đánh thuế”’. Từ đó, nhưng thật sự ra, đã bắt đầu từ rất lâu trước đó, đòan di dân Nam tiến ùn ùn đổ vào miền đất mới.

Những người di dân lúc ấy, được tổ chức có, tự phát có, dân nghèo đi khẩn hoang có, dân vi phạm luật pháp bị lưu đày có, đã vào nam bằng đường thuỷ hoặc đường bộ.

Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Đình Hằng trong công trình khoa học: “Cơ sở tiếp cận văn hóa miền Trung: Nhìn từ làng xã vùng Huế”,  thì những di dân vào Nam bằng đường thủy thường là ở các vùng ven biển phía Bắc và khi vào Nam, họ nhanh chóng tiếp cận các vùng cửa sông, cửa bể và các vị đó khai canh làng xã theo dạng làng nghề như làng chài, làng ghe, làng đánh bắt hải sản v.v…Còn lại, một bộ phận di dân bằng đường bộ. Trong đòan người di dân bằng đường bộ, người viết bài này nghĩ rằng có đấng Tổ phụ chúng ta. Vì sao nghĩ vậy? Bởi vì ta biết, Tổ phụ chúng ta quê gốc ở làng Nho Lâm , huyện Diễn Châu, Nghệ An. Đó là vùng gần núi chứ không phải làng ven biển. Hơn nữa, Tổ phụ chúng ta thuộc dạng dân nghèo di dân (xin đọc bài “Cây đa Bàng Lãnh, cây gì” trong website này để biết về xuất thân của Ngài), nên cũng khó có thể có đủ tiền để đi thuyền trên đường thủy!!!

Và như thế, những người vào Nam theo đường bộ, bằng bước chân trần của mình, đã khởi nghiệp vô cùng gian nan trên con đường thiên lý! Máu, mồ hôi, nước mắt và cả sinh mạng đã đổ ra, gục xuống suốt chặng hành trình tìm miền đất hứa!!! Mênh mông góc bể chân trời, nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào!!!Đau đớn nhẽ không hương không khói, hồn ngẩn ngơ dòng suối, rừng sim!!!

 

 

Vượt núi , băng rừng đi mở cõi

 

Đường thiên lý là con đường do Hồ Hán Thương, vua thứ hai của nhà Hồ lập nên. Năm Hán Thương Thiệu Thành thú hai, nhà vua cho sửa chữa đạo lộ từ Tây Đô đến Hóa Châu, dọc đường đặt trạm truyển thư tín, gọi là đường thiên lý. Đó là con đường huyết mạch để thông tin liên lạc từ Bắc vào Nam thời bấy giờ.

Chúng ta hảy theo dỏi một đọan sau đây trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn mô tả về một đọan của con đường này, để biết nó có bao nhiêu núi, bao nhiêu đèo, đường đi hiểm trở, cheo leo ra sao:

“Ở Nghệ An , từ Thanh Chương xuống Hương Sơn, dọc theo một dãi núi dài về đến Thạch Hà, lại đi theo dãi Hòanh sơn vào đến Kỳ Hoa. Cứ đi về phía Nam, vượt hết Hòanh sơn là đến xã Phú Lưu. Hòanh sơn ở về châu Bố Chính, tiếp giáp Nghệ An, dãy núi ấy trùng trùng điệp điệp, từ xa kéo đến, ngang như một dãy trường thành.

Núi Đầu Mâu ở huyện Khang Lộc có một ngọn rất nhọn và cao, là đỉnh Đầu Mâu, dưới chân núi là sông Cái, nơi sinh ra lòai trạch dài.

Núi Thần Dinh ở huyện Khang Lộc, các ngọn khác đều hướng về phía Tây Nam, chỉ có núi nầy là trái lại, cho nên còn có tên là Bất Nghĩa.

Núi Lỗi Lôi ở châu Bố Chính, là một dãi của Hòanh Sơn, vừa dài, vừa rộng, núi nầy cùng với Tự Loan bên tả, bên hửu, có khe nước yên lặng, thuyền bè thường đậu nơi đây

 

 

Chập chùng núi, chập chùng mây, không một bóng người

 

Núi Mã Yên ở đầu nguồn huyện Lệ Thủy, cao lớn mà uyển chuyển đứng sững,trông như cái yên ngựa vậy, nên còn có tên là núi Thiên Mã

Núi Liệp sơn ở châu Minh Linh , ngọn núi tròn trĩnh và đẹp.

Núi Thượng sơn ở đầu nguồn huyện Hương Trà, đỉnh núi rất cao, đỉnh núi có cái giếng nước trong vắt và thơm.

Núi Uyển sơn ở huyện Kim Trà, các ngọn núi ấy ở Tây Bắc trùng điệp như rồng đi, hỗ phục, kéo thẳng ra tận sông Cái, rồi vọt lên một ngọn tròn như cái chén.

Núi Hải vân ở huyện Tư Vinh cửa Hải Vân, chân núi ăn ra bể, ngọn núi cao tít tầng mây, làm ranh giới hai xứ ThuậnHóa- Quảng Nam, có cửa ải , đặt đồn binh coi giữ.

……..

Từ Hải Vân, đi về đến Điện Bàn, Duy Xuyên phải mất hai ngày đường!”

 

 

 

 

Vâng, bao nhiêu núi là bấy nhiêu đèo, bấy sông bấy suối. Đường đi, như đã mô tả là hiểm hóc, cheo leo, chập chùng núi, chập chùng mây, rừng thiêng, nước độc, có những đọan hòan tòan không có bóng người.

 

 

Đi mở cõi với vủ khí thô sơ

 

Đòan dân nghèo đi mở cõi, với vũ khí thô sơ, chủ yếu là dao, rựa, gậy gộc, giáo mác, ai có áo mặc áo, ai có quần mặc quần, không có áo quần thì đóng khố, đầu đội nón lá hoặc quấn khăn. Hành lý mang theo nào có gì, năm ba người đựng đồ chung trong một cái hòm, trong đó chủ yếu là thức ăn như các loại củ rừng , rau, măng mà họ thu thập dọc đường đi.

 

 

Giết thú rừng để làm thực phẩm suốt đường đi

 

 Có lúc họ dừng lại săn bắt, bắt được con hươu, con nai, giết được con hổ, con báo, họ đều gánh theo để làm thực phẩm dọc đương. Gặp sông suối thì bắt cá, bắt cua đở bữa

 

 

Gặp sông suối thì xâu cây bắt cá

 

Cứ thế, đêm nghỉ ngày đi. Gặp sông thì băng sông, gặp suối thì lội suối, gặp đình, chùa, miếu mạo thì khấn vái cầu được bình yên chân cứng đá mềm, đi đến nơi về đến chốn, rồi xin tạm nghỉ qua đêm. Nếu đêm phải nghỉ giữa rừng sâu, thì đốt lửa canh phòng thú dữ, mọi người nằm quây quần bên nhau, quanh đóm lửa hồng, vừa ngủ, vừa canh…

 

 

Một thóang dừng chân nghỉ mệt giữa rừng

 

Bởi di chuyển nhiều nơi rừng thiêng nước độc, nên ốm đau, sốt rét là chuyện đương nhiên. Không có thang thuốc kịp thời, nhiều người đành nằm lại, trở thành nắm mồ vô chủ! Cũng có người đang ốm đau mà vẫn phải di chuyển, nên chân yếu tay run, rơi xuống vực sâu cũng là chuyện thường tình!

Sau này, có dịp đi trên đường thiên lý, danh sỹ Nguyễn Thông đã viết:

 

 

Ve kêu tự chốn nào?
Về tối giọng thêm sầu.
Khách đi mệt muốn nghỉ
Vắng vẻ chốn rừng sâu!
Bên đường hổ đói thét,
Mảnh áo giọt sương thâu…

 

. ĐẾN VÙNG ĐẤT MỚI

Từ Hải vân về Điện Bàn, Duy Xuyên mất hai ngày đường…

Bước chân qua đèo đã mở ra một trang sử mới, một miển đất mới!

Cuối cùng thì, sau ba , bốn tháng trời nếm mật nằm sương trên đường thiên lý, đoàn người cũng đã đến được nơi họ ước mong!

Tổ phụ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã quyết định dừng lại tại hữu ngạn sông Thu Bồn, khu Phù Kỳ (Gò Nổi) để khai phá đất này!

Đó là khỏang thời gian mà chúng tôi đã ước định ở bài hai là từ 1566 đến 1579. Bối cảnh lịch sử lúc này ở Quảng Nam như sau (nguồn trích xuất từ Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng)

Năm 1555

          Sách Ô Châu cận lục, do Dương Văn An nhuận sắc là sách địa phương chí đầu tiên viết về vùng đất từ Quảng Bình vào đến bờ bắc sông Thu Bồn ở thế kỷ XVI. Theo sách này, huyện Điện Bàn (tương ứng với nửa phía Bắc tỉnh Quảng Nam, kể cả thành phố Đà Nẵng) lúc ấy thuộc phủ Triệu Phong, có 66 làng. Trong đó có hơn 30 làng còn được lưu tên đến ngày nay.

 Năm 1555

          Địa danh Đà Nẵng lần đầu tiên được sách Ô châu cận lục của Dương Văn An nhắc đến khi nói về “ngôi đền thờ thần Nguyễn Phục ở cửa biển Đà Nẵng”. Nguyễn Phục đỗ tiến sĩ đệ tam danh (1453), giữ chức Phi vận tướng quân trong cuộc bình Chiêm của vua Lê Thánh Tông (1471). Do bị bão, thuyền vận lương không tới kịp, quân sĩ bị đói. Ông bị bắt giam và bị chém. Khi vua hiểu ra lý do trễ nải, truyền chỉ tha tội thì bản án đã được thi hành.

 Năm 1558

          Nguyễn Hoàng, con thứ hai của Nguyễn Kim được phong Đoan quận công, xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa (Thừa Thiên – Huế ngày nay) và được vua Lê Anh Tông chấp thuận. Ban đầu, Nguyễn Hoàng lập bản doanh ở Ái Tử, bên bờ sông Thạch Hãn (Quảng Trị).

 Năm 1569

          Nguyễn Hoàng ra Thanh Hoa yết kiến vua Lê tại hành cung An Trường (nay thuộc tỉnh Nghệ An), được vua Lê cho kiêm lãnh cả hai trấn Thuận Hoá và Quảng Nam. Quận công Nguyễn Bá Quýnh đang giữ chức Tổng binh ở Quảng Nam được đổi về trấn thủ Nghệ An.

 Năm 1572

          Theo sách Thực lục tiền biên, “bấy giờ chúa Nguyễn Hoàng ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến ngày càng nhiều. Hội An trở nên một nơi đô hội lớn”.

 Năm 1576

          Năm Long Khánh nguyên niên (1576), Minh Mục Tông (Trung hoa) ra lệnh mở “hải cấm” (do Minh Thái Tổ ra chiếu chỉ từ năm 1371) cho phép thường dân xuất dương buôn. Cũng từ đây thuyền buôn và thương nhân Trung Hoa bắt đầu đến Hội An.

Cổng TTĐT thành phố

 

Như vậy, có thể thấy lúc tổ phụ ta đến dừng chân khai canh mảnh đất mà sau này đặt tên là làng Bàng Lãnh, nơi ấy không hòan tòan hoang vu như ta nghĩ. Có thể, đất ấy chưa ai khai phá, nhung chung quanh đó, đã có những làng được lập nên từ trước. Theo Ô châu cận lục của Dương Văn An, đó là làng Bảo An, làng Lỳ Lam và làng Đông Bàn..

 

 

 

Túp lều đầu tiên trên vùng đất mới

 

Đến nơi, đòan người đã quyết tâm ở lại nơi này. Họ chon một mảnh đất phong quang để hạ trại, cặm lều , nhặt nhạnh cây cỏ, lá tranh để lợp tạm một túp lều che mưa đỡ nắng. Đó là ngôi nhà đầu tiên tạm bợ, để có một làng Bàng Lãnh bao la 286 mẩu đất về sau!

 

 

Từ túp lều đầu tiên đó, cha ông ta đã dựng thêm một ngôi nhà sàn

để tránh thú dữ và rắn rết luôn là kẽ “đồng hành”.

 

Trong quá trình viết bài này, chúng tôi thường xuyên thỉnh ý các bậc bề trên. Người đã chỉ dẩn cho tôi nhiều nhất là đức cố Phạm Trường Ngôn, thế hệ 13, phái nhì. Theo trí nhớ của cụ Cố, thời gian Tổ phụ chúng ta vào Nam, cũng là lúc Chúa Nguyễn Hòang xây dinh Quảng Nam ở Thanh Chiêm (huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn). Quả thật, trí nhớ của Cố thật tuyệt vời, đáng khâm phục. Như ta đã biết, Chúa Nguyễn xây dinh trấn Quảng Nam năm 1602. Rõ ràng, trí nhớ này không hề nhầm lẫn, trái lại, đã góp một thông tin có giá trị  liệu lịch sử rất lớn để chúng ta càng có nhiều tư liệu  hơn nhằm biết tương đối chính xác thời gian Tổ phụ đặt chân đến nơi này, khai canh làng Bàng Lãnh Xã.

 

 

Dinh trấn Thanh Chiêm được xây dựng vào khỏang năm 1602.

 

Đến đây, chúng tôi xin kết thúc bài 3. Xin kính mời đọc tiếp bài 4 : “Bàn thổ, triệu cơ, khẩn đất, lập làng, dựng miếu, xây đình,  mở nền văn hiến”

 

 

                                                                   Phạm Trường Ngọc Tuấn

Trong bài này, chúng tôi sử dụng các tai liệu tham khảo: Ô châu cận lục của Dương Văn An, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Cơ sở văn hóa các làng Việt ở miền Trung của TS Trần Đình Hằng, Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng, Cổng thông tin điện tử  huyện Điện Bàn và một số các trang web gia tộc ở Quảng Nam, Đà Nẵng.

Về ảnh minh họa, chúng tôi sử dụng ảnh tư liệu của Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương, CLB Unesco Hanoi, website777.com và các trang mạng khác.

Gởi cho bạn In bài
HỌ PHẠM
Lá cờ họ Phạm Việt Nam
Logo họ Phạm Việt Nam
Ảnh đô hồ đại vương Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm
Mộ Phạm Tu
 
 

Bản quyền thuộc về Hội đồng gia tộc họ Phạm Trường - Bàn Lãnh Xã.
Ghi rõ nguồn "www.tocphamtruong.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ ông Phạm Trường Ngọc Tuấn - ĐT: 0938 956 186Phạm Trường Hiền - ĐT: 0905 064064,

Phạm Trường Giang - ĐT: 0918 19 66 77.

E-mail : paulovvtuan@yahoo.com.vn

Designed by Viet Pho Co., Ltd.