MỜI QUÝ VỊ VÀO THẮP HƯƠNG CHO NGÀI THỦY TỔ - TỘC PHẠM TRƯỜNG
Họ và tên :    Ở tại :    Hình ảnh : hình ảnh
Chia sẻ :
NGƯỜI MỚI THẮP HƯƠNG
————————————
11:46 - 13/12/2017
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
Ở tại: GIA LAI
THỐNG KÊ : Số người đã thắp hương ngày hôm nay : 3 - Tổng số lượt thắp hương : 67.182
 
THỐNG KÊ
Trực tuyến : 65
Số lượt truy cập : 1.573.431
Tìm về cội nguồn     Lịch sử gia tộc
Cập nhật 16:17' 08/08/2012
THỜI MỞ CÕI BÀI BỐN: BÀN THỔ, TRIỆU CƠ KHẨN ĐẤT, LẬP LÀNG DỰNG MIẾU, XÂY ĐÌNH MỞ NỀN VĂN HIẾN!

THỜI MỞ CÕI

 

BÀI BỐN:

 

BÀN THỔ, TRIỆU CƠ

KHN ĐT, LP LÀNG

DNG MIU, XÂY ĐÌNH

M NN VĂN HIN!

 

Có lẽ, không ở nơi nào như đất nước ta, hai danh từ chung “sông” và “núi” ghép với nhau là sông núi lại hóa thân thành Tổ Quốc, thành tiếng gọi thiêng liêng có sức mạnh vô địch cổ vủ dân tộc Việt chiến đấu và chiến thắng bất cứ thế lực ngọai xâm hung bạo đến bất kễ từ phương trời nào!

Điều này có nguyên do của nó. Đó là do từ buổi bình minh khai sinh đất nước, dân tộc Việt nam đã lập quốc ở vùng châu thổ sông Hồng, mà vùng núi và trung du Bắc bộ được xem là cái nôi vùng châu thổ. Đó là mảnh đất hẹp, người đông, địa hình bị sông, núi chia cắt thành từng mảnh vụn. Dưới sức ép gia tăng dân số, mảnh đất ấy càng ngày càng không đủ sức chứa (theo tiền Hán thư, trước Công nguyên, dân số vùng bắc bộ đã lên tới 14 vạn hộ, với 981.735 người). Và khi mà, không thể lấn về phương Bắc với đế chế Trung Hoa, về Tây với rừng núi, về Đông thì gặp biển, người Việt chỉ còn con đường độc đạo là xuống phương Nam!

Từ thưở lấn về Nam, trước hết là vượt qua Hòanh Sơn rồi lần lượt đến Thạch bi sơn, tức là trọn dãi đất miền Trung với Trường sơn ngút ngàn và hùng vĩ, người Việt cũng lại gặp núi, gặp sông. Có thể nói, người Việt mở mắt ra là thấy núi, thấy sông, cho nên trong tâm thức, núi sông là biểu tượng thiêng liêng của đất nước, nên đã hình thành ý chí quyết một lòng bảo vệ núi sông có chết cũng chẳng từ. Và cũng chính từ tâm thức ấy đã hình thành thế đứng tựa núi, nhìn sông !

Chính vì vậy, chẳng lạ gì khi Thủy Tổ Phạm Trường tộc ta về đến phủ Điện Bàn, Ngài đã chọn mảnh đất hửu ngạn sông Thu Bồn, tựa lưng vào núi Chiêm sơn-Trà Kiệu làm miền quê mới.

 

 

Không ảnh vệ tinh thế núi và sông hửu ngạn sông Thu Bồn

khu vực mà Tổ phụ ta chọn lập làng mở đất .

 

Đó là đất như thế nào?

Khi thủy tổ ta vâng chiếu vua Lê lên đường mở cõi, chiếu viết:

“ Xứ Ô châu, người Chiêm Thành bỏ đi hết. Phàm dân các nơi, ai không có nhà cửa, ruộng vườn, của cải, nếu mộ được nhiều người đến tụ tập cày bừa, đợi đủ số đinh lập được xóm làng, mới đánh thuế”’.

Nhưng thật sự ra, như bài ba đã trình bày, vùng đất ấy không phải là đất trống do người Chiêm bỏ lại. Những công trình nghiên cứu sau nầy của các tác giả như Trần Quốc Vượng, Nguyễn Tử Chi, Trần Đình Hằng, Trần Trung Tú, La Cordiere…đều có tiếng nói chung rằng, vẫn còn số đông người Chiêm ở lại và cọng sinh với người việt mới di dân đến, hai bên chung sống hòa bình và cọng tác với nhau trong việc khai thác đất hoang. Họ chính là nguồn nhân lực để các cư dân mới “mộ được nhiều người đến tụ tập cày bừa…”. Còn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cưng ghi rõ tình hình quản lý ruộng đất của các chúa Nguyễn thời bấy giờ, như sau:

 

       “Hai xứ Thuận Quảng, về triều đời trước và đến khi họ Nguyễn trấn giữ, chỉ là cứ hằng năm sai người chiếu theo số ruộng hiện cấy mà thu tô thuế. Cảnh-trị năm thứ 7 (1669), Dũng-quốc-công Nguyễn-phúc-Tần mới sai quan thuộc đi khám đo ruộng công và ruộng tư. Quan thu thuế thóc, chia làm nhất, nhị, tam ba hạng và phân biệt nơi đất xấu, nơi bãi hoa màu tốt, biên vào sổ sách. Công điền giả về các xã chia đều cho dân để cày, gặt mà nộp thuế. Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi  như là "bản bức tư điền". Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn.

 

Đất nằm ven núi, chưa người khai phá!

       Truớc kia, họ Nguyễn lấy công điền các xã coi như của nhà nước, theo lệ nộp tô, đem về chứa ở kho sở tại không cấp "ngụ-lộc" cho các viên chức. Tuớng-thần-lại ở Hộ-bộ giữ sổ sách, thu và nộp. Lại lấy quan-điền-trang và quan-đồn-điền làm của riêng, giao cho dân cày cấy và tá canh, cứ đến mùa sai nguời áp đảo để thôi đốc việc gặt, đem thuyền tải thóc để xung vào nội khố. Khoản "ngụ-lộc" để cấp cho họ hàng và thần hạ đều lấy vào thóc này. Các chức Lệnh-sứ, Câu-kê, Cai-hợp giữ sổ sách thu và nộp, phép lệnh rõ ràng. Vả lại khoản "ngụ-lộc" cấp cho các bà mẹ nhà họ Nguyễn cũng chỉ có 10 mẫu, Chưởng-cơ mỗi nguời 5 mẫu, Cai-cơ 4 mẫu, Cai-đội 3 mẫu rưỡi, nội Đội-trưởng 3 mẫu, Đội-trưởng 2 mẫu ruỡi, rất có chừng mực

      Sách Chu-quan lấy phép xét tính thổ nghi để phân biệt các vật loại về 5 hạng đất : một là núi, rừng, hai là sông, chằm, ba là gò, đống (khâu, lăng), bốn là phần, diễn ( bờ sông gọi là "phần", nơi thấp bằng gọi "diễn"), năm là nguyên, thấp (nơi cao mà bằng phẳng gọi là "nguyên", nơi đất thấp gọi là "thấp"); phân biệt vật loài 12 thứ đất, biết trồng trọt (như ruộng cao trồng lúa mạch, ruộng thấp trồng lúa dạo, khâu, lăng, nguyên, thấp trồng dâu, trồng gai v.v..). Cho nên ruộng đất không thể không phân biệt đẳng, loại để biết rõ nơi bằng, nơi cao, nơi thấp, có tính chất béo gầy, tốt xấu khác nhau. Lấy phép quân bình ruộng đất để phân biệt 5 loại lúa, 9 hạng đất mà đánh thuế để cho dân biết chức phận, để cho phép đánh thuế được hoàn thiện, để thu được tiền thuế, như thế thì nơi nào cũng trồng, cấy, người nào cũng no đủ, thuế khóa nhẹ, rất dễ thu nộp. Lại có quan chức giữ việc giao thông khắp các nơi để đem sản vật nơi này đến nơi khác (như gỗ ở rừng thì rời đến chỗ sông, chằm; cá, muối thì đem lên nơi núi rừng), làm thăng bằng cán cân quả cân, làm một mực sự đo lường. Nghiêm cấm bọn hào cường đầu cơ làm hại người buôn bán, làm cho dễ dàng sự trao đổi hàng hóa được thuận tiện. Như thế thì còn người dân nào nghèo nữa, còn nước chả giàu thịnh vậy du. Cho nên làm cho dân được an cư lạc nghiệp, theo tục của dân, mở mang điều lợi cho dân, trừ bỏ hết cái hại cho dân, những điều ấy là cái việc đầu tiên để vỗ về dân  vậy”

          Như vậy, có thể thấy rằng, mảnh đất ven núi Chiêm Sơn-Trà Kiệu mà thủy tổ tộc ta  chọn khai phá , sau này gọi là Làng Bàng Lãnh, là đất “rừng rú bỏ hoang” (vì trước đó không ai khai phá, mặc dù chung quanh nó đã có làng Bảo An, Kỳ Lam và Đông Bàn), xét về năm hạng đất thì thuộc lọai đất núi, rừng. Theo phân hạng quản lý như trong Phủ biên tạp lục dẫn ở phần trên, đất này đương nhiên là đất “bản bức tư điền”. Thế nào là “bản bức tư điền”? Bản là bản đồ, bản bức là bức bản đồ. Tư điền là đất tư. Bản bức tư điền là bức bản đồ đất tư, giống như tờ, thửa ghi vị trí miếng đất trong sổ hồng, sổ đỏ ngày nay vậy. Người khai phá đất phải vẽ bản bức tư điền trình lên phủ chúa để được công nhận là đất tư, dân xã không ai được tranh ruộng tư ấy.

 

 

Hai cha con người đi mở cõi. Cha cùng với con trưởng vẽ

“Bản bức tư điền” trình lên phủ Chúa.

 

Tuy nhiên, mặc dù theo luật là như vậy, song công lao to lớn của Tổ phụ ta ở chỗ, bao nhiêu đất tư điền, sau này Ngài đều sung thành công điền và đem chia cho dân làng. Với những tộc đến sau như Trương, Nguyễn, Ngô, Hồ… Ngài cũng đều chia sẻ cho họ có đất cấy cày, làm ăn, giúp họ thuận lợi trong việc tiếp tục khai khẩn đất mới. Về việc này, xin thưa rõ, chúng tôi không tìm thấy (cũng có thể chưa có cơ duyên để tìm thấy) tài liệu nào ghi lại. Nhưng qua những gì còn truyền miệng lại của các chư tộc làng Bàng Lãnh từ thế hệ này qua các thế hệ khác và cho đền hiện nay, người Bàng Lãnh Xã trải qua các thời kỳ đều công nhận việc Ngài chia đất tư thành đất công cho dân là sự thật.

 

 

Quan trên về khám công, tư điền thổ để thu tô, đóng thuế!

 

 Sự thật rõ ràng đến mức Châu Bộ Gia Long năm 1813 còn ghi đất đai làng Ba Lãnh (tên gọi theo chữ Hán của làng ta lúc đó), là 286 mẩu, 8 sào, 11 thước thuộc đất công điền. Trong khi, như chúng ta đã biết qua Phủ biên tạp lục: . “Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi  như là "bản bức tư điền". Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn”.  Mặc dù đất tư là “vĩnh viễn”, nhưng Ngài đã khẳng khái sung công. Chính vì ghi nhớ nhân đức này, nên khi Ngài khuất núi về Trời, dân làng phụng thờ Ngài ở rất nhiều nơi như Đình làng, miếu Tam Vị, miếu Lục Vị (xin xem tiếp đọan sau sẽ rõ).

Đến đây, người viết xin có đôi điều thưa rõ để tránh những hiểu nhầm có thể xảy ra một cách đáng tiếc. Trong quá trình viết lọat bài này, người viết đã được cụ Cố Phạm Trường Ngôn căn dặn nhiều lần, là “viết gì thì viết, không bao giờ được bịa đặt, mạo phạm lịch sử, hoặc ca ngợi ông cha mình mà đụng chạm đến các chư tộc làng Bàng Lãnh xưa, cũng như các tộc họ khác. Phải suy xét cẩn thận, không thể để, dù là vô tình, mà gây mất đòan kết với bà con các chư tộc”. Quả nhiên là cụ Cố đã tuân thủ rất tốt lời Tổ huấn (xóm giềng trên dưới lấy ân làm thân), và đến lượt mình  dạy dỗ đích tôn của tộc, cụ cũng không quên nhấn mạnh đến yếu tố đòan kết vốn là sức mạnh của làng Bàng Lãnh xưa và nay! Cẩn tuân lời dạy của đấng bề trên, đích tôn xin thưa rằng, mặc dù chưa được đọc một tài liệu nào có ghi hai ngài thủy tổ của hai họ Phạm, Đỗ vào Nam cùng một lúc, cùng đòan kết, thuận hòa khai canh đất này một cách đồng thời, nhưng qua truyền tụng của các vị bô lão cuả làng từ bao đời nay, việc đó là sự thật.

 

 

Việc khai canh làng ta là công lao chung của hai đấng Tiên hiền Phạm, Đỗ nhị tộc và bốn vị thủy tổ Trương, Nguyễn, Ngô, Hồ đến sau (lục vị, sau này nhân dân lập miếu lục vị để thờ)

 

Việc khai canh, khai cư làng ta là công lao chung của trước hết là hai đấng Tiên hiền Phạm, Đỗ nhị tộc, cũng như các Ngài thủy tổ các tộc đến sau như Trương, Nguyễn, Ngô, Hồ và các lớp hậu hiền. Công này, không phải riêng của Tiên hiền Phạm Trường tộc. Tuy nhiên, trong phạm vi bài này, bài viết có tính dự thảo về lịch sử gia tộc Phạm Trường, có những điều có thể còn nhiều sơ sót, thậm chí sai sót. Ngay cả trong nội bộ tộc Phạm Trường, cũng chỉ xem biên sọan của người viết là hòan tòan có tính cá nhân, việc các bậc bề trên cho phép đưa thông tin lên website của tộc, là để bà con bổn tộc tham khảo, từ đó đóng góp ý kiến, rồi gia tộc mới có quyết định cuối cùng. Điều ấy có nghĩa là, ngay cả nội bộ, tộc Phạm Trường còn chưa thống nhất một ý kiến chính thức, chúng tôi, vì thế, không thể “mở rộng” vấn đề sang các tộc khác, e rằng sẽ làm rối thêm, “trong nhà chưa tỏ, ngòai ngõ đã hay”, chứ không có ý giành hết công lao cho tộc Phạm Trường. Vậy xin nói cho rõ để tránh hiểu nhầm, và mong được thông cảm nếu có gì chưa vừa ý! Từ đây về sau, chúng tôi dùng cụm từ “người mở cõi” để gọi chung những ai đã tham gia vào quá trình này

Bây giờ xin trở lại với vấn đề buổi đầu tiên khẩn đất, lập làng!

Xin nhắc lại, đất ấy là đất rừng, còn hoang vu, chưa người khai phá! Người mở cõi phải chiến đấu với cọp beo, thú dữ, chém cây, đẵn gỗ, ban đá, phá rừng để lấy đất canh tác

 

 

Đẵn gỗ, phá rừng, sẵn sàng trừ thú dữ

 

 

Chặt cây , dọn cỏ, đốt tranh, ban đất gò thành đất phẳng để cấy cày.

 

 

Rừng hoang đã thành ruộng.

Để gieo được hạt lúa, người phải cày, bừa thay trâu!

 

 Xuống bàu mò cua, bắt cá, phục vụ bữa ăn cho trai làng ăn no đánh khỏe

 

 

Lúa được cuốn thành từng bó, đập để lấy thóc

 

 

Giã gạo

 

Từ mảnh đất đầu tiên đã khai phá để trồng lúa nước vụ đầu để giải quyết cái ăn trước mắt, Tổ tiên ta hiểu rằng, năng suất lúa sẽ chẳng là bao nhiêu ở vụ đầu tiên, nên cũng đã trồng thêm các cây lương thực ngắn ngày như ngô, khoai, sắn …để chống đói. Cũng hiểu rằng, trồng lúa theo phương pháp lúa nước cổ truyền, vấn đề cốt yếu của năng suất là nước, nên đã tận dụng và đào sâu thêm các vùng đất trũng tự nhiên thành hồ, thành bàu để lấy nước cấy trồng, tát nước vào ruộng bằng gàu dai, gàu sòng…

 

 

Tát nước bằng gàu sòng

 

 

Rồi thì những mái tranh như thế này đã được dựng nên, quanh nhà

trồng thêm khoai ,sắn đậu, mè… để đỡ đói khi hết gạo.

 

 

Ngoài lúa, đã có thêm khoai, sắn, đậu, mè phòng khi hết gạo!

 

 

Đối với người nông dân khi đến khai canh làng quê mới,, vấn đề

đầu tiên là phải giải quyết cái ăn, “dĩ thực vi tiên”.

 

 

Còn cái mặc thì, tạm thời…có gì mặc nấy! Trời nắng vẫn mặc áo tơi!

 

Cái ăn, cái mặc, cái ở là vấn đề cốt tử của buổi đầu tiên, nhưng đối với người lãnh đạo đòan quân mở cõi, tầm nhìn phải xa hơn, cao hơn.

Khẩn đất thì phải lập làng để khẳng định chủ quyền cương vực!

 

Theo quy định của triều Lê, nếu tiên hiền đến khai canh vùng đất nào, mà chiêu mộ được khỏang 50 dân đinh, thì sẽ được lập làng.

Lập làng thì phải có làng hiệu (tên làng).

Trước khi viết lọat bài này, chúng tôi suy nghĩ đơn giản rằng, tên làng, tên xã là danh từ riêng, đặt sao thì đặt, miễn là không …đụng hàng, không trùng tên với làng khác, xã khác thì thôi.

Nhung thật ra, người xưa đặt tên xã, tên làng có những nguyên tắc riêng của nó, chứ không phải là danh từ riêng mà muốn đặt gì thì đặt!

Vậy những nguyên tắc đó như thế nào?

 

Một là, tên làng có chữ Xá: (xá là chỗ ở) Đây là trường hợp mà đòan người khai canh vùng đất mới cùng một tộc, họ với nhau, như họ Lê, họ Đặng, họ Mai, họ Đỗ v.v…thì đặt làng hiệu là Lê Xá, Đặng Xá, Mai Xá, Đỗ Xá v.v…để phân biệt rõ làng này là chỗ ở của những người mang họ ấy.

 

Hai là lấy tên làng cùa quê cũ đặt tên cho làng mới. Người đi khai hoang, mở cõi phần lớn vì lý do sinh kế. Nhưng quê cha đất tổ vẫn là nơi chôn nhau, cắt rốn, đầy ắp nghĩa nặng tình sâu, ngàn năm không thể phai mờ, cho nên, người ta khi lập làng, thường lấy tên làng cũ đặt tên cho làng mới, như là cách đễ luôn luôn nhớ về cố hương, để con cháu mai sau biết rõ cội nguồn. Ví dụ điển hình như làng Giao Thủy ở huyện Điện Bàn. Đây là làng do Tiên Hiền tộc Nguyễn Văn là Quý công Nguyễn Văn Thông đặt, bằng cách lấy tên huyện Giao Thủy ở Nam Định, quê gốc của Ngài, để đặt tên cho làng mới do ngài khai canh (nay thuộc xã Đại Hòa huyện Đại Lộc). Cũng có một số nơi đặt thêm chữ “Tân” trước tên làng cũ để phân biệt cũ, mới (Tân có nghĩa là mới) .

 

 

Suy nghĩ đặt tên làng

 

 Ba là đặt tên theo địa lý, địa hình, địa thế, hoặc đặc điểm nổi bật của quê mới. Ví dụ như Bà Rén (sông), Trà Kiệu (để nhớ đây là vùng đất đã một thời là kinh đô cũ của người Chiêm), Chiêm Sơn (núi của người Chiêm ngay tại kinh đô Trà Kiệu). Đây là cách mà Tổ tiên ta đặt tên cho làng ta. Vì mảnh đất mà tổ tiên ta khai khẩn nằm ngay dưới núi Chiêm Sơn, đây là núi mà trên núi đã có đường đi nên gọi là “Lãnh”. Đất nằm dưới núi, nên gọi là “Ba” (chữ Ba có bộ sơn, nghĩa là Ba trũng: đất ba trũng là đất kề sát núi). Vậy tên làng nguyên thủy (lúc mới đặt làng hiệu đầu tiên, thời Nguyễn Hòang) là làng “Ba Lãnh” có nghĩa là làng kề bên núi mà trên núi có đường đi. Cách đặt tên này căn cứ vào địa hình, địa thế.(Rất tiếc bàn phím của chúng tôi không có chữ Hán để có thể đánh máy tên Ba Lãnh rõ ra).

Người viết xin lưu ý rằng các làng mới do di dân khai canh ở Quảng Nam và rộng ra là cả đàng trong đều được đặt tên bằng chữ Hán (ta quen gọi là chữ Nho). Sau này, khi có chữ quốc ngữ, các tên làng được phiên ra chữ quốc ngữ, và đó cũng là nguyên nhân chính gây ra những cuộc tranh cãi về tên gốc của làng. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau…

 

Bốn là đặt tên làng theo làng nghề. Đặt tên theo trường hợp này là hơi hiếm, vì tất cả cư dân của làng cùng làm một nghề khác với nghề nông, ví dụ làng Lò Thổi (nghề rèn), Lò Đúc (nghề đúc) v.v…

 

Năm là đặt tên theo ước vọng. Khi đến khai canh quê mới, người mở cõi thường gởi gắm nhiều ước vọng ở mảnh đất mới này. Vì thế  tên làng theo cách này thường có những chữ cuối như Lộc (được lôc), An (được bình an), Phú (được giàu), Vinh (được vinh hiển) v.v… ví dụ như Đại Lộc, Bảo An, Tư Phú, Nam Vinh v.v…

Trên đây là một số nguyên tắc chính thường được người mở cõi đặt tên cho làng quê mới.

 

Khi số đinh vừa tròm trèm vào khỏang 50 người, và khi cây gạo do Tổ phụ ta trồng sau chừng vài năm đã cao lớn ( xem bài Cây đa Bàng Lãnh, cây gì trong website này), có dáng dấp của một cây đa, tổ tiên ta nghĩ đến chuyện lập làng!

Đầu tiên là đặt làng hiệu để trình quan, Tổ tiên ta đặt tên làng là làng Ba Lãnh như đã trình bày ở phần trên.

 

 Theo Phủ biên tạp lục thì làng ta lúc ấy thuộc huyện Phủ Châu, phủ Điện Bàn.

 

Huyện Phú Châu có hai Tổng:

Tổng Thượng có 46 châu, 12 phường.

Tổng Hạ có 38 châu, 3 phường và các làng: Doanh Trận Đông, Doanh Trận Tây, Long Hội , Tì Bà, Phi Phú Đông, Phi Phú Tây, Bà Hồi, Hòa Duân, Bảo Tòan, Đông Ba, Ba Lãnh Tây, Ba Lãnh Đông, Doanh Trận tứ chiến, Thúy La, Giáo Ái Đông, Giáo Ái Tây. Làng Ba Lãnh của ta là Ba Lãnh Tây, sau này, dưới thời vua Gia Long gọi là Bàng Lãng Xã, còn Ba Lãnh Đông sau này đổi thành Bàng Lãnh Đông Châu, bây giờ gọi là thôn Đông Lãnh thuộc xã Điện Trung.

 

 

Cây gạo từ quê hương mang vào trồng đã lớn, có dáng dấp của một cây đa,

Tổ tiên ta quyết định  lập làng. Đình làng được xây dựng bên cây gạo.

 

Đình làng lúc đầu tiên thờ ai, ta sẽ bàn sau. Nhưng có làng thì tất yếu phải có đình, như đất nước phải có thủ đô.

Vậy là Tổ tiên ta đã quyết định bước trọng đại nhất của việc khai canh, đó là mở nền văn hiến.

Tổ tiên ta phải lên nguồn, những vùng núi cao và sâu đốn gỗ đem về để xây đình.

 

Lên nguồn  xẻ gỗ đem về làng để xây đình

 

 

Cưa gỗ xây đình

 

 

Những trụ cột đầu tiên của ngôi đình

 

 

Trang trí bên trong ngôi đình

 

 

Khi đã có đình thì Xuân kỳ, Thu tế. Lễ mở đường cày trong hội tế Thu,

 cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt

 

 

Vang vang trống gọi họp đình

 

 

 

Giàn lễ nhạc cúng đình

 

 

Đội nghi thức cúng đình

 

Vấn đề là đình làng lúc ấy thờ ai? Giải nghĩa được việc này, ta mới thấy trí tuệ tuyệt vời của Tổ phụ, tính nhân văn cũng như nhân sinh quan “Đại Đức” của Ngài.

Trên nguyên tắc, đình làng phải thờ Thành hòang làng, những vị tiên liệt có công “hộ quốc tỳ dân”. Trong bài “Đình làng Bàng Lãnh thờ ai” trong website này, hai tác giả Phạm Trường Thành và Phạm Trường Ngọc Tuấn cho biết, đình làng ta thờ Nam Hải Đại Càn tứ vị thánh nương thượng đẳng thần, cùng Tiên hiền Phạm, Đỗ nhị tộc là các vị Bàn thổ Triệu cơ, và thủy tổ các tộc Trương, Nguyễn, Ngô, Hồ đến sau (lục vị). Nhưng vào lúc ấy, lục vị đang là những người tại thế. Thờ lục vị, chắc chắn phải thờ khi lục vị qua đời. Vậy, đầu tiên chỉ thờ tứ vị thánh nương. Tại sao lại thờ tứ vị thánh nương (là nữ thần biển), trong khi đất làng ta là đất rừng, lý ra, nếu phải thờ thần, thì đương nhiên phải thờ thần núi? Hai tác giả PTT, PTNT hứa sẽ lý giải sau.

Dưới đây là lý giải .

Để lý giải, người viết xin quay lại bối cảnh lúc đó.

Khi Tổ phụ ta đến, đó là lúc đã có một số người Việt từ miền Bắc di dân vào trước và đã lập làng như làng Bảo An, Kỳ Lam, Đông Bàn, đồng thời có nhiều người Chàm bản địa tiền trú còn ở lại sau khi có một số đã rút đi. May mắn là khi xử lý tài liệu viết bài này, người viết đã có cơ duyên đọc một số “ Thủy thiên bản ( tức là bản gốc- thủy là gốc, đầu tiên- ghi lại buổi đầu di dân của các tộc họ) tại miền Trung qua các tài liệu khoa học của Tiến sĩ Trần Đình Hằng. Xin giới thiệu một vài đọan dưới đây để chúng ta cùng tham khảo, đồng thời có cơ sở để hiểu về giao tiếp của Tổ tiên các dòng họ mở cõi lúc mới đến, với người Chăm còn ở lại (nguồn trích xuất từ cổng thông tin điện tử “Văn hóa miền Trung”)

 

“Thời Lê, vùng ðất Ô châu ác ðịa Thuận Hóa là ðịa bàn tiếp nhận các

tội ðồ “lưu viễn châu”, rồi “lưu cận châu”. Lưu trong ngủ hình thời Lê có ba

bậc: Cận châu (Nghệ An), ngoại châu (Bố Chính) và viễn châu (Tân Bình,

Thuận Hóa). Ðến năm 1474, ranh giới ðó dã dịch chuyển về Nam: Thãng

Hoa (Quảng Nam), Tư Nghĩa (Quãng Ngãi) và Hoài Nhân (Bình Ðịnh) 52.

Buổi ðầu trên vùng ðất mới, người Vệt là “thiểu số.”, ðến nổi nhà Lê

còn ban hành chiếu chỉ (1499) cấm người việt kết hôn với phụ nữ Chăm Pa:

“Tháng 8, ngày 9 [Kỷ Mùi - 1499], có chiếu rằng: Kễ từ nay, trên từ thân

vương, dưới đến dân chúng, ðều không ðược lấy đàn bà con gái Chiêm

Thành làm vợ, ðể cho phong tục được thuần hóa” …….

 ðây, Thủy thiên  bản (bản ghi buổi đầu dời chỗ, hay nguyên ủy của

việc di dân) là một tư liệu đặc biệt quý hiếm chứa đựng nhiều thông tin tư liệu rất có giá trị về  bối cảnh giao luu vãn hoá buổi ðầu trên vùng ðất này, hiện lưu giữ

tại Nhà thờ họ Bùi làng Câu Nhi (Hải Lăng, Quảng Trị), khởi viết nãm Thuận

Thiên 2 (1429) bởi vị thủy tổ Bùi Trành, qua sáu lần sao lục, bản gần ðây thời

Tự Ðức, Khải Ðịnh.

Buổi ðầu định cư trên vùng ðất mới ðược khắc họa rõ nét, ðại ý:

Lần ấy gỉa làm khách buôn, nhung thực ra là ði tìm ðất,

Người nhà ði theo không thể biết ðược. Nhân triều ðình ban

Lệnh: Xứ Ô Châu, người Chiêm Thành ðã bỏ ði hết, phàm dân

các nơi ai không có nhà cửa, ruộng vườn, cày cấy, mộ ðược

nhiều người tụ t.ập khai phá cày bừa, ðợi lập thành làng xóm

mới ðánh thuế. Ta ðứng lên hưởng ứng, bàn bạc, mộ ðược 20

người... Nguyên trước, tôi có bàn bạc với người Chiêm Thành ở đấy, định chỗ ăn ở rồi, nên nay không còn phải lời qua tiếng lại nào nữa. Nhân ðó, mua tranh gỗ dựng nhà, chưa đầy một ngày thì xong. Làm tạm một cái rạp ở chỗ nhà, sắm sửa heo

xôi, bày biện hai bàn tế một lễ, mời tất cả về hưởng, cáo táng

kim cốt và cáo xin canh phá. Từ . ðó về sau, chỗ ở ðã chắc

chắn, người Chiêm Thành lũ lượt tới lui, tôi ðem hết lòng

thành ðối đãi với họ, mỗi khi gặp sự biến trôi đều qua lại giúp đở.

Từ ðây, có thể thấy ðược một số ðiểm mấu chốt: nhu cầu ra ði tìm

đất mới ở miền Bắc là rất lớn, ðược triều ðình cổ súy bằng nhiều ðiều

khoản thiết thực, trên một vùng ðất người Chàm vẫn còn ða số, môi

trường sống mới lạ, nhưng hửu hảo, hứa hẹn tương lai, ðến nổi trở về làng mộ thêm  20 người, mang theo cả kim cốt ông bà cha mẹ v.v...

Mặc dù vậy, người Việt mới đến đây vẫn lạ lẩm, đau đáu nỗi lo thiểu số

 Ðoạn nói về Phạm Duyên có ghi:

... Chúng ta ðều người Bắc, ngày trước quan Ủy lạo tướng công nguyễn Văn Chánh mất ðã chôn ở ðây, ngày nay cha tôi, quan Tổng binh sứ. Phạm Duyến mất cũng chôn ở đây hay là trời khiến con cháu ở lại xứ này. Ta khuyên anh ta ðã có

lòng nghĩ ðến như thế  thì nên quyết chí ở ðây cùng ta làm một

làng lân cận cũng là việc tốt. Ông Phạm Quán nói: Ở ðây

người Chiêm Thành ðông, người mình ít, sợ sau này sinh hạ con cháu, người Sở kẽ Tề nhuốm theo phong tục họ.... Cứ như

chỗ ngài ðang ở, người mình nhiều, người Chiêm Thành ít,

ngày sau họ sẽ hóa theo ta, có nên thuần phong mỹ tục. Vậy

ta xin ðược đến đây nhập với ông, ông có đồng ý không?.

Triều ðình ban bố chiếu chỉ di cư khi “người Chiêm  ở Ô châu ðã

bỏ ði hết”, nhung khi ðến nơi thực tế cư dân bản địa vẫn còn rất đông.

….. Cư dân bản địa, trong Thuỷ  thiên bản có khi còn gọi là người Bồng Nga:

Ngài Nguyễn Kinh con ông Ủy lạo sứ  Nguyễn Vãn Chánh,

Tướng công cùng cha phụng mệnh đi ủy lạo quan quân. Ngài ðến

nhà ta, ngày ði xem ðịa thế, ðêm về chuyện trò tâm ðắc. Một

hôm, tướng công thẳng đến chỗ ở của người Bồng Nga. Triều

ðình giao cho ta cùng ông thuong thuyết với người Bồng Nga.

Sau ba ngày, dọn một bữa tiệc cùng nhau ăn uống xong, họ bàn

định với nhau rằng chúng ta nên ðồng lòng hiệp sức với nhau

cùng gìn gìn đất nước. Tướng công nói: Các ngươi ðã có lòng vì

nước, triều ðình há ðể giặc Minh ðến gây rối giết hại sao?Nãm

ngày sau, làm một bữa tiệc nữa, mọi người hâm mộ khâm phục ngài. Càng ngày, người gia nhập theo theo càng ðông, quân sĩ các bộ lạc đến hơn 2500 người.

Trong bối cảnh đó,việc khai hoang vỡ đất càng được chú trọng, trở thành công cuộc Nam tiến qui mô, hiệu quả thời  chúa Nguyễn. Thậm chí ở

Thãng Long, chúa Tiên vẫn chỉ ðạo sát sao vấn ðề này qua một lệnh truyền

cho Phù Nghĩa hầu Lương Vãn Chánh (nãm 1597):

... Hãy liệu ðem số dân xã Bà Thê ðã trục vào hạng dân và các

thôn phường  khách hộ theo hầu công việc, lấy riêng số dân

khách hộ ðến các xứ Cù Mông, Bà Ð ài, Bà Diễn, Bà Niễu,

trên từ nguồn mọi, dưới đến cửa biển kết lập gia cư địa phận khai khẩn ruộng ðất hoang cho tới khi thành thục sẽ nạp thuế như thường lệ.

 Nhược bằng vi chỉ nhiễu dân điều tra ra sẽ bị trị tội.

……………….

L. Cadière ðã có chuyên khảo rất công phu . nhiều làng xã Trị. -

Thiên, từ vấn đề địa danh học, quá trình ðịnh cư của các dòng họ khai canh tại những địa điểm gần các di tích Chàm, thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Người Việt nhanh chóng tiếp cận rồi Việt hóa những địa danh, hiện tượng bằng các giai thoại, truyền thuyết mới, chỉ giữ lại chi tiết trọng tâm Bà, có khi dựng chồng lên trên, hoặc bên cạnh một đền miếu mới v.v…

Tất cả đã trở thành cứ liệu mới để có thể dễ dàng nhận thấy sự hiện diện đến mức phổ biến của những di tích, di vật có liên quan đến Dàng/Yan mà

trong nhiều trường hợp  chính người dân trong vùng cũng không hiểu ðược

ngữ nghĩa của nó; nhưng ðó chính là Thần của người Chàm và các tộc người thiểu số gắn liền với các đền tháp…………………

Ở tầm vĩ mô, các chúa Nguyễn ðã rất biện chứng trong việc kế thừa các di sản bản địa, để rồi Đàng trong phát triển mạnh lên là nhờ phát triển ngoại thương, điển hình là cảng Hội An, thực chất là tái phục Đại Chiêm hải khẩu nồi danh đầu Công nguyên và tôn trọng, tích hợp tín ngưởng bản điạ như tục thờ nữ thần vào Phật giáo để xác lập hệ tư tưởng cho vùng đất mới: Bà trời áo đỏ

Câu hỏi được đặt ra là  trong vùng ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, tại sao người Việt chỉ Việt hóa đến mức cao nhất hình tượng của Bà Mẹ xứ sở? Có lẽ suy cho cùng cũng chính là điểm gặp gỡ gần gũi đối với người Việt lúa nước. “

 

(Tài liệu trích dẫn từ www.vanhoamientrung.org)

 

Tài liệu trên, cho ta thấy vài nét chấm phá về bức tranh chung buổi đầu các dòng họ đến mở cõi ở miền Trung và sự giao tiếp của người mới đến với dân bản địa. Chắc chắn rằng, làng Ba Lãnh Tây của ta lúc đó cũng như bao làng khác ở miền Trung, còn sự hiện diện của người Chăm bản địa tiền trú, bời vì làng ta ở sát Trà Kiệu, mà Trà Kiệu từng là kinh đô của người Chăm, hiện nay di tích đền đài thành quách vẫn còn.

 

 

Những di tích của kinh đô Chăm hiện nay vẫn còn tại Trà Kiệu

 

Vậy, tổ tiên ta giao tiếp với người Chăm như thế nào để có thể thuần hóa họ theo ta, chứ không phải để ta nhiểm phong tục tập quán của họ?

Đây chính là vấn đề mấu chốt của việc đình làng Ba Lãnh Tây lúc đó thờ ai. Như ta đã biết, người Chăm chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, họ chuyên thờ các vị nữ thần (đã dẫn ở phần trên). Tổ phụ ta xuất thân từ Nghệ An, nơi chuyên thờ Nam Hải Đại Càn tứ vị thánh hương với đền Cớn nồi tiếng linh thiêng. Do vậy, khi lập làng quê mới dù ở ven núi, ể thu phục nhân tâm, để cảm hóa giáo dục người Chăm bản địa, để hài hòa tín ngưỡng mà đôi bên đều cảm thấy đưộc tôn trọng, được thỏa mản, Ngài quyết định đình làng thờ tứ vị thánh nương là nữ thần biển. Đối với người Chăm mà nói, họ hiểu tứ vị thánh nưong tức là nữ thần Chăm. Thực sự thì khi xác minh lai lịch của tứ vị thánh nương, chúng tôi cũng gặp không ít giả thuyết cho rằng tứ vị chính là nữ thần Thiên Y A Na, hay Yan, Dàng, Bà Trời áo đỏ của người Chăm.

 

 

Những người phụ nữ này, là Việt hay Chăm?

 

Động thái trên của Tổ phụ chúng ta thật hết sức sáng suốt, nhân văn và…Đại Đức! Đây là việc làm mang tính chính trị, nhưng là chính trị có tính nhân văn sâu sắc, tính văn hóa rất cao và biểu lộ nhân sinh quan Đại Đức của Ngài. Ngài đã giải quyết ở tầm văn hóa tư tưởng, mấu chốt của mối quan hệ Việt Chiêm ở làng ta trước đó. Người Việt ở Nghệ An theo Ngài vào lập quê mới, khi bước vào đình, có cảm giác về với ngôi đình quê hương. Người Chăm khi vào đình, cũng có cảm giác vào ngôi đình với nữ thần của họ, vì thế, cả hai có cảm giác hòa nhập, cọng đồng và có tiếng nói chung. Tiếng nói này rất quan trọng vì nó quyết định sự đòan kết, cọng tác, đồng tâm hợp lực, quyết tâm xây dựng làng ta thành ngôi nhà chung của những cư dân khác nguồn gốc, chung sống trong thanh bình phát triển và tôn trọng lẩn nhau.

 

 

Dù đây là người Việt hay Chăm, họ cũng đã chung sống

thanh bình, đòan kết, tôn trọng lẩn nhau với tình làng nghĩa xóm!

 

Đấy chính là thắng lợi trong chính sách đòan kết của Ngài! Chỉ là người Đại Đức mới có tầm nhìn và cách giải quyết vấn đề như thế! Trong cách hiểu đó, chúng tôi đã cố gắng dịch từ “đình làng” sang tiếng Anh. Tôi đã tham khảo rất nhiều cách dịch, cuối cùng, thấy rằng từ “communal house” (ngôi nhà chung) là thỏa đáng hơn hết. Vâng, chính thế, đình làng là ngôi nhà chung của cả làng, nơi tập hợp, đòan kết và phát huy sức mạnh của nhân dân các bộ tộc (nếu có) trong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta!

Về mặt triết học, chính quyết định sáng suốt của Tổ phụ ta, đã san bằng “khỏang cách tâm linh” trong đời sống cọng cư của dân làng. Từ cách thờ “thần đàn bà”, Ngài đã mang lại sự cân bằng tâm linh về cách nhìn nhận nữ thần Thiên Y A Na của người Chăm với nữ thần biển, ở đây ta hiểu là nữ thần nước, nâng lên thành hình tượng “bà mẹ lúa nước” của người Việt.

Hiểu đến đây, chúng ta càng thấm thía công ơn Tổ phụ. Từ cách giải quyết vấn đề nhân văn kết hợp yếu tố tâm linh một cách hài hòa, sâu sắc như vậy, làng Ba Lãnh Tây tiếp thu trọn vẹn trong hòa bình, hữu hảo, không gây xung đột những thành quả của người Chiêm bản địa như là những diện tích đất đai mà họ đã khai phá trước đó. Chính vì thế, sau này, bao nhiêu “tư điền” khai phá được, Ngài đem sung công. Đó là cách giải quyết thấu tình, đạt lý, có trước, có sau của một con người lấy đức, lấy lễ, lấy nhân để thu phục nhân tâm, quy lòng người về một mối!

 

 

Lấy đức, lấy lễ, lấy nhân để thu phục nhân tâm, quy lòng người về một mối

 

Về vấn đề phong thủy, địa lý, cấu trúc, quy mô, hệ thống tổ chức, thuế khóa, đinh bộ, điền bộ của làng Ba Lãnh Tây chúng tôi sẽ giới thiệu ở bài năm: “ Từ làng Ba Lãng Tây đến Bàng Lãnh Xã”, kính mời bổn tộc đón đọc. Đến đây, chúng tôi xin kết thúc bốn và chân thành cáo lỗi đã để bà con chờ bài này hơi lâu với rất nhiều nhắc nhở!!!

Phạm Trường Ngọc Tuấn

Gởi cho bạn In bài
HỌ PHẠM
Lá cờ họ Phạm Việt Nam
Logo họ Phạm Việt Nam
Ảnh đô hồ đại vương Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm
Mộ Phạm Tu
 
 

Bản quyền thuộc về Hội đồng gia tộc họ Phạm Trường - Bàn Lãnh Xã.
Ghi rõ nguồn "www.tocphamtruong.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ ông Phạm Trường Ngọc Tuấn - ĐT: 0938 956 186Phạm Trường Hiền - ĐT: 0905 064064,

Phạm Trường Giang - ĐT: 0918 19 66 77.

E-mail : paulovvtuan@yahoo.com.vn

Designed by Viet Pho Co., Ltd.