MỜI QUÝ VỊ VÀO THẮP HƯƠNG CHO NGÀI THỦY TỔ - TỘC PHẠM TRƯỜNG
Họ và tên :    Ở tại :    Hình ảnh : hình ảnh
Chia sẻ :
NGƯỜI MỚI THẮP HƯƠNG
————————————
21:21 - 11/12/2017
Tran thi hong nhung
Ở tại: GIA LAI
THỐNG KÊ : Số người đã thắp hương ngày hôm nay : 3 - Tổng số lượt thắp hương : 67.176
 
THỐNG KÊ
Trực tuyến : 8
Số lượt truy cập : 1.572.754
Tìm về cội nguồn     Ký ức về làng bàn lãnh xưa
Cập nhật 15:22' 08/10/2012
NHỚ VỀ LÀNG BÀNG LÃNH XƯA: MỘT THUỞ CHĂN TRÂU !

NHỚ VỀ LÀNG BÀNG LÃNH XƯA:

 

MT THU    CHĂN TRÂU !

MT  THI

MÒ CUA, BT C!

MÌNH LÀ DÂN BÀNG LÃNH  Với nhau, nói thật đi, đừng dấu diếm,lúc

 nhỏ ở ngòai quê bạn thích nhất cái gì? Ghét nhất cái gì?

Nói thật cho bạn biết nhé, lúc ấy, mình ghét nhất là đi học, thích nhất là đi

chăn trâu, chăn bò, mò cua bắt  ốc!

Bạn đừng nói mình kém suy nghĩ nhé! Không đâu, dù còn nhỏ, mình cũng

 suy nghĩ rất nhiều. Sau nhiều ngày đêm vắt óc suy nghĩ , mình vẫn chẳng

thể nào  hiểu được đi học để làm cái chi!

 

 

Chẳng biết học làm cái chi mà khổ như ri!

 

 Như cô Tám mình, cô chỉ học hết tiểu học, bà nội bảo ở nhà làm ruộng, đi học làm chi, học nhiều chỉ để viết thư cho trai thôi. Với cô thì như vậy, nhưng với mình thì bà lại bảo phải cố gắng học, học đến “hết chữ” thì thôi. Học để mai mốt lớn lên khỏi cực tấm thân! Bà Nội mình rõ là đã lẫn. Đi học mới cực. Đi học phải dậy sớm, không được ngủ nướng, phải học bài, làm toán, phải sợ thầy, phải kỹ luật. Ở ngoài quê, thầy giáo làng thật là oai. Dù tụi tui có “hoang” cỡ nào, nhưng nhác trông thấy thầy từ xa, là “dọt” lẹ. Đứa mô vô phúc để thầy trông thấy, thì phải khép nép nghiêm trang, chờ thầy đi tới thì khoanh tay cúi đầu chào rất lễ phép, khi thầy đi xa mới dám tiếp tục quậy! Học cực như rứa, làm sao sướng bằng chăn trâu chăn bò!

 

 

Như ri, ai bảo chăn trâu là khổ?

 

 Ai đã từng bắt con trâu quỳ xuống để mình leo lên lưng nó, lấy cái roi đánh cái đết vào mông, tay cầm dây điều khiển nó đi, mình ngồi trên lưng trâu, chễm chệ như một vị tướng quân, phóng tầm mắt nhìn khắp làng trên xóm dưới, cỏ non ven đường, đồng lúa vàng rực, biền dâu lấp lánh, ruộng mía thấp thóang cờ lau, các ông bù nhìn hai bên đường giang tay vẫy gọi, gió đồng mát rượi, mới thấy hết cái sướng, cái oai phong, cái…cái chi hè, ừ, cái tự do , tự tại  của một tướng quân chăn trâu! Chăn trâu cũng có cái “thần” của kẻ chăn trâu chứ nào phải chuyện đơn giản!

 

 

 

Ai bảo chăn trâu là khổ? Ở quê tôi, con trâu là đầu cơ nghiệp, chỉ có nhà giàu mới sắm được trâu, do đó, chỉ có con nhà giàu mới được chăn trâu. Bạn có thể bảo chưa chắc. Ừ thì chưa chắc, nhưng chắc chắn con nhà giàu mà thích đi chăn trâu thì có trâu để chăn liền. Chuyện nhỏ! Mà giàu nghèo chi, đó là chuyện của người lớn. Con nít chúng tôi không phân biệt giàu nghèo. Chỉ cần tụ với nhau đi chăn trâu chăn bò, mò cua bắt ốc là sướng lắm rồi!

 

 

Ngồi trên lưng trâu như một vị tướng quân trên yên ngựa

 

 

 

 Chúng tôi thường đưa trâu đến những bãi có non bên các bàu như Bàu Điển, Bàu Dung, Bàu Dược, Bàu De, để trâu gặm cỏ còn tụi tôi thì “cởi truồng”, xuống bàu, hoặc xuống mương, mà tụi tui thường gọi là “suối” cho sang, tắm . Lúc ấy, tôi càng hiểu sâu sắc rằng, cuộc đời này chẳng cần phải học, “học chi cho lắm, tắm cũng ở truồng” !!! Nhưng sướng thì sướng vậy, thi thoảng, cũng bị tổ trác, gặp hôm con gái đi qua, tụi tui “dị” lắm, lặn biến xuống bàu, liền bị con gái chơi khăm “dú” mất quần!!!

  

 

Bị con gái chơi khăm!!!

 

Tụi tui tức lắm, quyết chí phục thù. Tụi tui cố gắng rình mò, chờ hôm nào con gái đi mò cua bắt ốc, thì xuất hiện để… “lêu lêu” và… “dú” lại quần, nhưng “tụi nó” khôn lắm, dù xuống bàu, vẫn mặc đầy đủ!!! Thế là …thua!!!

 

 

Con gái dù  xuống ao mò cua bắt ốc, vẫn mặc đủ áo quần!!!

 

Tôi thích nhất là những đêm trăng theo các chú đi quăng lưới hoặc đặt lờ! Khi  vầng trăng non treo ở đầu cây, mặt nước lấp lánh ánh vàng, các chú thường chèo ghe quăng lưới. Vì cá thường ra khỏi nơi cư trú vào lúc chập tối hoặc hừng sáng (nhất chạng vạng, nhì rạng đông) nên quăng lưới lúc đó là trúng. Mặt nước nhấp nhô, lóng lánh ánh trăng thường làm cá nhảy lên đớp mồi, một mẽ lưới thu họach cũng bộn. Nhiều lắm, kính thưa các loại cá!

 

 

Khi vầng trăng vừa treo trên ngọn cây, cũng là lúc cá thưởng nhô lên mặt nước để đớp mồi

 

 

Lúc đó thả ghe  quăng lưới là bắt được kính thưa các lọai cá

 

 

Hoặc thả “lợp” để sáng hôm sau vớt lên, cũng đầy cá

 

Không quăng lưới, thả lợp thì … đặt lờ. Lờ là dụng cụ được đan bằng tre nứa, miệng có hom, cá tôm chui vào hom là không thể thóat ra được. Đặt lờ phải đặt nơi nước đứng, hoặc dòng chảy nhỏ, đầu mùa mưa đặt lờ để hứng cá lên,vì đầu mùa mưa cá thường lội ngược dòng tìm nơi sinh sản, và cuối mùa thì đặt lờ để hứng cá xuống, vì lúc này cá thường xuôi con nước quay về nơi cư trú .

 

 

Đặt lờ thường đặt nơi nước đứng hoặc giòng chảy nhỏ

 

 Để bắt được nhiều cá, ta có thể đặt nhiều lờ cùng môt lúc. Đặt lờ phải chọn đặt nơi có nhiều cá, nếu không thì chờ cả buổi mới bắt được vài ba con cá thì mất công toi! Để giữ cho cái lờ cố định, người ta thường dùng một que cây cắm ép cái lờ vào bờ, nếu chỗ nước sâu thì buộc lờ vào những cọng cỏ dọc bờ mương. Xong thì ngồi chờ. Chờ đến khi nào nghe cá quẫy rồ rồ trong lờ thì giở lờ lên. Chao ơi , cá rô, cá tràu, cá diếc…

 

 

Vớt lờ lên

  

Nếu không đặt lờ thì có thể dùng nơm. Nơm được làm bằng nhiều thanh tre liên kết với nhau bằng hai , ba vành đai mây. Nó có hình cái nón cụt. Miệng nơm cỡ hai tấc, hai tấc rưỡi, đáy nơm khỏang năm tấc đến bảy tấc, cao khoảng năm tấc tới tám tấc .

 

Cái nơm

 

 Khi bắt cá, người ta thường lội xuống ao, xuống bàu hoặc xuống mương, dùng tay cầm miệng nơm úp từ trên xuống. Khi có cá quẫy bên trong , người ta thò tay qua miệng nơm bắt cá

 

Khi chụp được cá, thì thò tay vào nơm bắt cá

 

Ở quê tôi, có nhiều lọai dụng cụ bắt cá như đăng, đó, lờ, nơm v.v…

 

 

Đủ các loại dụng cụ đánh bắt cá như  đăng, đó, lờ nơm

 

 Nếu việc bắt cá là việc của đàn ông, thì mò cua, bắt ốc là việc của đàn bà, hoặc đám chăn trâu chúng tôi.

                                                                                                                                 

 

 Các mẹ, chị đang bắt ốc. Ốc bươu sống ở mương, ao , hồ, ruộngchỗ

nước ít chảy xiết

 

Quê tôi có nhiều lọai ốc , nhưng tôi thích nhất là ốc bươu. Ốc bươu thường có ở các bờ mương cạn, ao hồ, bàu nơi nước lặng (ít chảy, hay có dòng chảy nhỏ). Khi mùa mưa đến, ốc bươu phát triển nhiều vô số!

 

 

 

 Lúc đó, chỉ cần bước xuống nước, quơ tay là đụng ốc bươu! Ốc thường bám ở rễ cây, rễ lúa, cành cây mục, chỗ có nhiều bùn non, vì đấy là nguồn thức ăn của chúng, Ốc bươu được đem về, ngâm với nước vo gạo một đêm cho giã bùn, sau đó đem nướng, luộc, hoặc um, ta có  món ăn ngon lành, bổ dưỡng, tràn đầy thi vị.

 

 

Một đĩa ốc bươu

 

 Bạn có thể tưởng tượng, vào một ngày mưa nguồn về trắng đồng, mưa bay mờ mịt trắng xóa cả khung trời Bàng Lãnh, gợi nhớ người xa, buồn da diết, ta bèn ngồi luộc một rỗ ốc bươu chấm với nước mắm ớt tỏi tiêu hành, vừa ăn…vừa nhớ, càng nhớ, càng ăn …bạo! Ta ăn, mà mắt ta long lanh ngấn lệ. Chẳng biết nhớ nhung làm ta khóc, hay nước mắm với ớt tỏi tiêu hành làm cay xé lòng ta!!!

 

 

Hồi nhỏ, tôi thường ăn ốc bằng cách chặt đít rồi đưa vào miệng hút…chụt chụt. Cùng với tiếng kêu chụt, con ốc luộc chui vào miệng, khoái khẩu đến lạ lùng. Lớn lên, vào thành phố,  lúc bước vào “iu”, lâu lâu tôi cũng “mi” người iu trong…quán vắng. Quán vắng là quán …không đông, chỉ có những cặp tình nhân hẹn hò nhau. Có lần tôi “mi” mạnh phát ra tiếng kêu chụt chụt, làm cả quán cười hí hí. Bạn tôi mắc cỡ đầm vào vai tôi… “quỹ”. Quỷ chi mà quỷ. Ôi tiếng kêu chụt chụt gợi nhớ về một thời hút ốc…dưới mưa bay. Mặc dù sự liên tưởng này là rất …mất vệ sinh, nhưng cũng khiến lòng tôi…ngơ ngẩn!!!

 

 

Trời mùa Đông, xuống ao bắt ốc thấy rất ấm. “Khốn nạn” là lúc lên bờ!

 

Bạn đừng tưởng rằng trong tiết trời Đông lạnh giá, nhảy xuống ao mò cua bắt ốc là chuyện cực hình. Bạn đã nhầm rôi! Trời càng lạnh, nhảy xuống ao càng ấm! “Khốn nạn” nhất là từ ao lên bờ!!! Lúc đó chỉ cần một cơn gió thổi qua bạn mới thấy cái rét như cắt thịt. Bạn phải ba chân bốn cẳng chạy về nhà ngồi hơ bên bếp lửa, may ra mới khói cảm…

Bắt ốc là việc rất dễ, vì con ốc vốn chậm chạp, hiền lành, không đáo để, không “ngang như cua”. Con cua vừa ngang bướng, vừa lắm trò, vừa…hay kẹp. Ai đã từng một thời mò cua bắt ốc, chắc chắn đã từng bị cua kẹp. Nó banh hai cái càng nhọn sắc ra, kẹp vào những ngón tay bé nhỏ của lũ chăn trâu chúng tôi, đau đến thấu xương!

Về tập tính, con cua đồng, mà người Bàng Lãnh quê tôi thường kêu là con “rộm”, thường đào hang để ở. Chúng thường đào hang ở ngang thân bờ ruộng, và khi đã chui vào hang, chúng thường lấy đất lấp miệng hang để tránh bị phát hiện. Tuy nhiên, lấp là lấp vậy chứ chúng không thể nào tô liền miệng hang giống bờ ruộng bên ngoài được, cho nên, hễ cứ đi quanh ruộng, thấy chỗ nào đất bị đùn lên, hoặc lỗ chỗ, lốm đốm không liền lạc như bờ ruộng, chúng tôi biết ngay đó là hang cua!

 

 

Cua thường đào hang ở ngang thân bờ ruộng.

Thò tay vào hang là bắt được cua, nhưng thường bị cua kẹp.

 

Thò tay vào hang bắt thì bị cua kẹp, chúng tôi dùng các que cây hoặc cái thuẩn để bắt cua rồi bỏ vào giỏ, đậy nắp lại cho cua khỏi bò ra. Cua là con vật phá họai mùa màng, thường cắn lúa, nên khi vào ruộng bắt cua, chúng tôi không sợ người lớn chửi. Bị chửi, có chăng là đào hang cua để bắt mà không lấp lại, để nước bị rỉ làm khô ruộng, chết lúa.

 

Hi, tóm được một chú ngang như cua!.

 

Bắt được một giỏ cua, là bữa cơm có thêm mùi vị ngon lành như cua ram, cua rang, cua nấu canh thiên lý hoặc rau muống. Những món ăn quê nhưng tuyệt vời ngon!

 

 

Sau một ngày chăn trâu, mò cua bắt ốc, cá cua đầy một giõ

 

 

Quân ta thắng lợi trở về!

 

Sau một ngày chăn trâu…tuyệt vời như thế, lúc chiều buông, chúng tôi thắng lợi trở về, cá cua, đầy giõ.

 

 

Ấy là lúc khói lam chiều ôm ấp mái nhà tranh.

 

 

 

Bếp nhà đang hồng ánh lửa. Bữa ăn quê thấm đậm tình quê, ngon quá là ngon.

 

Rồi những ngày thơ ấu như thế cũng trôi qua!

Rồi những ngày thanh bình làng xóm hoan ca, tình nghĩa bao la cũng không còn nữa. Quê tôi đầy bóng giặc.

Những người dân quê tôi, lớp thì chạy giặc tứ tán, lớp ở lại cùng với du kích kiên cường bám trụ, bảo vệ xóm làng, bảo vệ từng tấc đất của ông cha đã dày công khai phá từ thời mở cõi!

Một làng quê mộc mạc, hiền hòa đã bị giặc san thành bình địa. chúng rãi đạn bom thiêu sạch xóm làng rồi đem máy cày, máy ủi, máy xúc, máy xới tới san phẳng đất này. Trong chiến tranh ác liệt, quê tôi đã đi vào lịch sử với câu nói “nhất Củ Chi, nhì Gò Nổi”. Tổn thất vô biên ập xuống quê nghèo.

Những đứa trẻ chăn trâu ngày của một thời Bàng Lãnh rất xa ấy, đứa vào du kích, đứa vào bộ đội, đứa biệt động thành. Có đứa đã vĩnh viễn nằm lại đất này, mãi mãi tuổi mười tám!

Cuộc kháng chiến ba vạn sáu ngàn ngày không nghỉ ấy, cuối cùng nhân dân ta đã dành đại thắng. Quân xâm lược cuốn cờ về nước, còn người Bàng Lãnh, Gò Nổi thì trở lại làng xưa!

Trở lại quê xưa, mới thấy tổn thất là không có gì bù đắp nổi! Nhưng còn trời còn nước còn non, còn đồng ruộng đó, vẫn còn làng ta. Người dân Bàng Lãnh lại lao vào công cuộc xây dựng lại quê hương, tìm kiếm xương cốt ông cha, làm lại mộ phần, xây mới từ đường, đắp nền mộ Tổ.

Quê mới giờ đây đã phong quang. Đã có nhà tường gạch mái ngói. Điện đã vào tận xóm làng. Đường làng đã được láng bê tông. Ti vi thì hầu như nhà nào cũng có. Mừng thì mừng vậy, nhưng hầu như vẫn còn những ray rứt trong lòng: Giá như đừng có chiến tranh, quê mình giờ đây đẹp lắm !

Một thế hệ mới lớn lên cùng dựng xây quê hương! Không như lủ chăn trâu chúng tôi ngày xưa, chẳng biết đi học để làm cái chi, giờ đây thế hệ mới chăm học lắm để xây dựng nông thôn mới.

Dòng họ Phạm Trường, giờ đây cũng đã có Tiến sĩ, Thạc sĩ, Bác sĩ, Kỷ sư và nhiều sĩ quan cao cấp của Quân Đội nhân dân, Công An nhân dân. Có cả Đại biểu Quốc hội nữa.

Những người trẻ của làng Bàng Lãnh, giờ đây đã được học hành đến nơi đến chốn. Thậm chí, có gia đình còn cho con qua Mỹ, Anh, Pháp, Đức du học. Những cô gái Bàng Lãnh đi xa, về làng có người cũng nhuộm tóc …hai lai (highlight). Dù tóc trên đầu có hai, ba lai đi nữa, tôi vẫn muốn nói với em “rằng sang thì cứ thay màu áo, nhưng chớ quên màu khóm rễ tre”

 

 

 

 

Cô gái Bành Lãnh thời @ về làng. Dù tóc nhuộm “hai lai” cô vẫn

 không quên mình xuất thân từ gốc rạ! Bắt được con cua, cô mừng lắm.

Cảm ơn em còn nhớ quê mình!

 

Cuối cùng, tôi muốn tặng các bạn đang “iu” một bức ảnh vể cảnh “mò cua bắt ốc” của làng Bàng Lãnh thời hiện đại, để nhớ quê mình, trong cái chung, cũng có …cái riêng. Cái riêng ấy, sống để dạ, chết mang theo!!!

 

Nhất là mối tình đầu!!!

 

 

“Mò cua bắt ốc” thời nay!

                                                   Phạm Trường Ngọc Tuấn

Gởi cho bạn In bài
HỌ PHẠM
Lá cờ họ Phạm Việt Nam
Logo họ Phạm Việt Nam
Ảnh đô hồ đại vương Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm
Mộ Phạm Tu
 
 

Bản quyền thuộc về Hội đồng gia tộc họ Phạm Trường - Bàn Lãnh Xã.
Ghi rõ nguồn "www.tocphamtruong.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ ông Phạm Trường Ngọc Tuấn - ĐT: 0938 956 186Phạm Trường Hiền - ĐT: 0905 064064,

Phạm Trường Giang - ĐT: 0918 19 66 77.

E-mail : paulovvtuan@yahoo.com.vn

Designed by Viet Pho Co., Ltd.