MỜI QUÝ VỊ VÀO THẮP HƯƠNG CHO NGÀI THỦY TỔ - TỘC PHẠM TRƯỜNG
Họ và tên :    Ở tại :    Hình ảnh : hình ảnh
Chia sẻ :
NGƯỜI MỚI THẮP HƯƠNG
————————————
21:21 - 11/12/2017
Tran thi hong nhung
Ở tại: GIA LAI
THỐNG KÊ : Số người đã thắp hương ngày hôm nay : 3 - Tổng số lượt thắp hương : 67.176
 
THỐNG KÊ
Trực tuyến : 41
Số lượt truy cập : 1.572.788
Tìm về cội nguồn     Lịch sử gia tộc
Cập nhật 15:46' 17/12/2012
PHẠM TRƯỜNG THỌ THỜI ĐẠI, THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

PHẠM TRƯỜNG THỌ

THỜI ĐẠI, THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

 

 

Bàn thổ triệu cơ Phạm Phủ Quân chi thần vị. Bàn thờ đấng Thủy tổ tộc Phạm Trường do BBT www.tocphamtruong.com lập, nhân tưởng niệm 368 năm ngày mất của Người!

(1644 - 2012)

 

Thủy tổ tộc Phạm Trường tên húy là Phạm Trường Thọ. Ngài còn có tên tự là Đại Đức, tên hiệu là Đại Đức và thụy hiệu cũng là Đại Đức. Trước khi trình bày về tên tự, tên hiệu và thụy hiệu của Ngài, chúng tôi xin trình bày về xuất thân của đấng Tổ phụ, như sau:

Theo “Nguyên tích gia phả”, đấng Tổ phụ thiêng liêng và muôn vàn kính yêu của chúng ta xuất thân từ đất Bắc. Nguyên tích gia phả ghi:

 Thủy tổ tự Bắc nhi lai, binh nhập Chiêm Thành, tương kỳ địa thế, triệu cơ du thử, khai thác điền thổ, kiến lập xã hiệu, tu thành tịch bộ nguyên viễn hà cơ cư nam vực u kỳ…” (Nghĩa là: Thủy tổ chúng ta đến từ đất Bắc, đi đánh Chiêm Thành. Sau khi yên giặc, thấy địa thế lạ, đến xem cảnh vật, rồi trụ lại khai phá, mở mang ruộng đất, lập thành xã hiệu (tức Bàn Lãnh Xã) tạo thành bộ tịch cơ nghiệp non sông ở khu Phù Kỳ (Gò Nổi).

(Xin xem toàn văn lời nói đầu của Nguyên tích gia phả đăng ở phụ lục dưới đây).

 

 

Thủy tổ tự Bắc nhi lai binh  nhập Chiêm Thành

 

Đến từ đất Bắc, vậy đất Bắc đó cụ thể là đâu?

Từ trước đến nay, dòng họ ta vẫn truyền ngôn (không có văn bản) rằng đất tổ của chúng ta là làng Nho Lâm, tổng Nho Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên gần đây, Cụ Cố Phạm Sáu, tộc danh Phạm Trường Cường đời thứ 13, phái Ba đã đưa ra nguyên bản “Văn tế Tổ” do cụ Tổ Phạm Trường Tiển (tức Ông Xã Long) đời thứ 12, phái Ba truyền lại trước khi về cõi vĩnh hằng. Trong nguyên bản văn tế này, có đoạn nói về quê gốc của Tổ phụ như sau:

“Tổ tiên ta đời xưa thuở trước, đất Bắc phần xứ Nghệ nguyên căn, làng Thọ Xuân, Diễn Châu nguyên thủy”

Theo đó, quê hương của Tổ phụ, cũng là đất tổ của chúng ta là làng Thọ Xuân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Làng Thọ Xuân là một ngôi làng cổ của Thừa tuyên Nghệ An vào thế kỷ thứ 16, bây giờ không còn tên trên bản đồ hành chánh tỉnh Nghệ An (giống như Bàn Lãnh xã). Tuy nhiên, sau khi nhận được nguyên bản văn tế Tổ từ cụ Cố Sáu Cường, chúng tôi đã bỏ ra một tuần để tìm dấu tích làng Thọ Xuân…trên mạng. Cuối cùng, cũng tìm được trang web www.nghean.24h.com. Trang web này có đăng bài “Người gom cổ tích làng”, nói về cụ Cao Danh Thanh, một người ở tuổi cổ lai hy (xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu) nhưng vẫn say sưa tìm gom những câu chuyện cổ tích về làng, chỉ với tâm niệm “để con cháu không quên gốc tích”.

 

Cụ Cao Danh Thanh, người luôn say sưa

tìm các câu chuyện cổ tích của làng

Cụ Thanh cho biết:

“Làng tôi xưa có tên Thọ Xuân, làng không quá 200 người nhưng lịch sử làng có từ ngàn năm trước. Vì thế, quê tôi có nhiều câu chuyện cổ và những chứng tích sót lại khiến mỗi câu chuyện sinh động như vừa mới diễn ra ngày hôm qua.” (Nguồn:www.nghean.24h.com)

 

Từ chi tiết “làng tôi xưa có tên Thọ Xuân”, chúng tôi tiếp tục đi tìm và biết được làng Thọ Xuân ngày xưa còn có tên là “làng Mới”, nay là xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tra cứu trên tự điển bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), chúng tôi nhận được kết quả sau đây:

Diễn Phú là một xã thuộc huyện Diễn Châu của tỉnh Nghệ An.

Xã Diễn Phú là một xã nằm ở phía Nam huyện Diễn Châu, cách Quốc lộ 1A khoảng 300m, cách Thành phố Vinh khoảng 30km về phía Bắc. Diễn Phú giáp các xã: Phía Tây giáp xã Diễn Lợi, phía Bắc giáp xã Diễn Thọ, phía Đông giáp xã Diễn An và xã Diễn Lộc, phía Nam giáp với xã Nghi Hoa (Huyện Nghi Lộc). Giao thông tương đối thuận lợi và rất gần với Khu Di tích lịch sử Đền Cuông, bãi biển Cửa Hiền, Cửa Lò. Diễn Phú nằm trong vành đai khu kinh tế Đông Nam, một dự án kinh tế trọng điểm của tỉnh Nghệ An

 

Bản đồ huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Xã Diễn Thọ và Diễn Phú ngày xưa là làng Nho Lâm, nay tách ra làm hai xã. Tổ phụ ta ở làng Thọ Xuân, nay thuộc xã Diễn Phú.

Xã Diễn Phú ngày xưa còn gọi là Làng Mới vì chủ yếu người dân từ làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ và làng Vinh Quang xã Diễn Lợi chuyển vào định cư

Tự điển Wikipedia còn cho biết thêm Diễn Phú được tách ra từ làng Nho Lâm cũ:

Nếu ai đã từng đến Diễn Phú cách đây khoảng 10 năm bây giờ mới có dịp trở lại chắc hẳn sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi sự thay đổi kỳ diệu của mảnh đất tươi đẹp này. Diễn Phú ngày nay đã và đang từng bước thoát khỏi cảnh đói nghèo như bao miền quê khác nhờ sự đổi mới trong cách nghĩ, cách làm của chính quyền và nhân dân ở đây. Điện, đường, trường, trạm và nhiều công trình khang trang khác đang từng ngày, từng giờ làm nên bộ mặt mới và sẽ níu chân bất cứ vị khách nào có nhã hứng du ngoạn nơi đây.

Những câu thơ nổi tiếng về Diễn Phú:

         " Rú Mụa ai đắp mà cao

         Khe Rong ai bới ai đào mà sâu"

         " Thứ nhất là cục Tiền Quân

        Thứ hai Rú Mụa thứ ba Động Thờ"

        " Nho Lâm than quánh nặng nề

         Em mà đan được thì về cùng anh".   

(Diễn Phú tách ra từ Làng Nho Lâm cũ) 

                                                             ( Nguồn Wikipedia)

Như vậy đã rõ, quê gốc chúng ta, đất tổ chúng ta là làng Thọ Xuân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, còn có tên là làng Mới, nay là xã Diễn Phú, xã được tách ra từ làng Nho Lâm cũ.

Ngài Thủy tổ sinh ra và lớn lên tại làng Thọ Xuân, nay là xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An dưới thời đại như thế nào?

I)     THỜI ĐẠI VÀ THÂN THẾ

Như đã trình bày trong loạt bài “ Thời mở cõi” đăng trong website này, Tổ phụ chúng ta được sinh ra vào nửa cuối thế kỷ thứ 16. Đó là khoảng thời gian đầy biến động trong lịch sử của dân tộc. Chính quyền trung ương vào lúc này, vua Lê chỉ là hư vị, chúa Trịnh nắm thực quyền. Con trai quan Thái sư Thái phó Nguyễn Kim là Đoan quận công Nguyễn Hoàng sợ bị Trịnh Kiểm sát hại nên tìm đường vào Nam. Sau khi được cụ Trạng Trình- Nguyễn Bỉnh Khiêm ban cho tám chữ “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Nguyễn Hoàng nhờ chị ruột là công chúa Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) nói với Trịnh Kiểm xin vua cho vào Nam trấn thủ biên thùy. Năm Mậu Ngọ 1558, niên hiệu Chính Trị thứ nhất đời vua Lê Anh Tông, Nguyễn Hòang được cử vào Nam trấn thủ đất Thuận Hóa.

 

Năm Chính Trị thứ nhất triều Lê Anh Tôn, Đoan quận công Nguyễn Hòang phụng chiếu vào Nam trấn thủ Thuận Hóa

Từ đó, lịch sử sang trang, chuẩn bị cho thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, cũng chuẩn bị cho thời kỳ mở rộng đất nước của chúng ta vào tận mũi Cà Mau, lập nên đất nước Việt Nam hoàn chỉnh như bây giờ!

 

Sinh ra trong thời kỳ ly lọan với những cuộc chiến tranh liên tục (Lê-Mạc, Nhà Lê, chúa Nguyễn và Chiêm Thành), đất nước bị kiệt quệ bởi chiến tranh, thiên tai, địch họa, mất mùa liên tục xảy ra, sinh linh đồ thán, hàng năm vùng Thanh Nghệ nhân dân chết đói không kể sao cho xiết, Tổ phụ chúng ta là nhà nho yêu nước, trước cảnh lầm than của bách tính lê dân, Ngài lập chí cứu nước, cứu dân khỏi vòng nước sôi lửa bỏng.

Xin dừng lại một chút ở chi tiết “Tổ phụ chúng ta là nhà nho yêu nước”. Đây không phải chuyện cháu con vì yêu kính Tổ tiên mà xưng tụng một cách vô căn cứ! Chúng tôi dám nói Tổ phụ là nhà nho yêu nước vì nguyên tích gia phả còn ghi Ngài “tích tự di lưu” (nghĩa là để chữ lại cho con cháu đời sau). Đó là chứng lý thứ nhất.

 

Tích tự di lưu

Chứng lý thứ hai nằm ở tên tự, tên hiệu và thụy hiệu của Ngài. Chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là tên tự, tên hiệu, thụy hiệu và ý nghĩa của các tên đó.

 

 

Theo tự điển Bách khoa toàn thư mở:

-Tên chữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Tên tự)

Bước tới: menu, tìm kiếm

* Tên chữ ((表)字 - (biểu) tự) là tên gọi của một người vào thời gian trưởng thành của cuộc đời. Sau năm 20 tuổi, tên chữ sẽ được đặt thay cho tên gọi như một biểu tượng của sự trưởng thành và kính trọng. Tên chữ chỉ thường dùng cho nam giới, và thường do cha mẹ đặt tên, cũng có thể là thầy giáo đầu tiên trong buổi học đầu tiên đặt cho, hay thậm chí do chính bản thân tự đặt cho mình. Truyền thống sử dụng tên chữ đã biến mất dần kể từ Phong trào Ngũ Tứ năm 1919.

 Ý nghĩa

Theo quyển Lễ ký, sau khi một người đàn ông đến tuổi trưởng thành, sẽ rất thiếu kính trọng khi những người cùng lứa gọi ông ta bằng tên thực (名 - danh). Vì thế, tên thực chỉ dùng khi một người tự nói về bản thân mình hoặc để một người lớn hơn gọi, còn tên chữ sẽ được những người ngang lứa gọi nhau một cách long trọng hoặc dùng trong văn bản, nên mới được gọi là tên chữ.

Tên chữ thường có hai âm và thường dựa trên ý nghĩa của tên thực. Nhan Chi Suy (顏之推) đời Bắc Tề tin rằng trong khi tên thực dùng để phân biệt người này với người kia, thì tên chữ sẽ biểu thị tính luân lý của một người.

Tên hiệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Tên hiệu thường là tên của trí thức thời phong kiến tự đặt thêm cho mình bên cạnh tên vốn có, thường là một từ ngữ Hán-Việt có nghĩa đẹp đẽ. Ví dụ "Ức Trai" là tên hiệu của Nguyễn Trãi.

 

Nguyễn Trãi có tên hiệu là Ức Trai

Thụy hiệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

* Thuỵ hiệu (tiếng Hán: 諡號) hay hiệu bụt hoặc tên hèm trong văn hóa Á Đông là tên được đặt cho những người quá cố, thường là vua chúa, nhưng cũng có một số người khác, như trong Phật giáo. Thụy hiệu, cùng với miếu hiệuniên hiệu là một trong những cách để gọi tên vua trong các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, và Việt Nam.

Ý nghĩa

Lê Văn Hưu lý giải điều này, được các sử gia đời Hậu Lê ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư:

Thiên tử và hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng, thì gọi là Đại Hành hoàng đế. Đại Hành Hoàng Hậu. Đến khi lăng tẩm đã yên thì hp bầy tôi bàn xem đức hạnh hay hay dở để đặt thụy là mỗ hoàng đế, mỗ hoàng hậu, không gọi là Đại Hành nữa.

Theo giải thích của nhà nghiên cứu Thiều Chửu (Nguyễn Hữu Kha) thì chữ Thuỵ cũng có nghĩa như sau:

Tên hèm, lúc người sắp chết người khác đem tính hạnh của người sắp chết ấy so sánh rồi đặt cho một tên khác để khi cúng giỗ khấn đến gọi là thụy. Ta gọi là tên cúng cơm.

 

Như vậy, với tên tự, tên hiệu cùng thụy hiệu là Đại Đức rõ ràng Tổ phụ chúng ta là một trí thức thời phong kiến, một nhà nho, một sĩ phu yêu nước thương dân. Sinh ra và lớn lên trong thời đại nước nhà ly lọan, sinh linh đồ thán, bá tánh lầm than, Ngài canh cánh bên lòng một chữ “Đức”. Ngài nép mình vào cõi đức để tu thân, bước ra nơi gian khổ hiểm nguy vì nhân sinh mà phấn đấu để mong thiên hạ thái bình. Do vậy, tuy không phải là vua, nhưng là đấng “Bàn thổ, triệu cơ” (người đi đầu khai phá đất đai đặt nền móng xây dựng xã hiệu), khi Ngài về trời, người dân xã Bàn Lãnh xét công lao, đức hạnh của Ngài, tôn Ngài là Phạm Phủ Quân. Quân nghĩa là vua trong câu quân thần. Phạm Phủ Quân là vua cha họ Phạm. Ở đây ta hiểu khiêm tốn hơn, chữ Quân có nghĩa là người cha đứng đầu, người đi đầu khai lập xã bộ, (giống như vua là người đứng đầu một nước!). Người Dân xã Bàn Lãnh cũng tôn Thụy hiệu Ngài là Đại Đức để biểu dương ân sâu, đức lớn, độ dày của Người!

Là một trí thức, một nhà nho, một sĩ phu yêu nước, ôm ấp trong lòng chí lớn cùng hoài bão yêu nước thương dân, cho nên khi Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng phụng chiếu vào Nam, Ngài đã nhanh chóng đứng vào đoàn quân Nam tiến, ra đi với mục đích đánh giặc mở mang bờ cõi, đồng thời tìm phương trời mới, đất mới để khai đất, lập làng, mở nền văn hiến, xây dựng nền thái bình thịnh trị, phát triển dòng họ để an lành cho con cháu ngàn năm. Cho nên khi yên giặc, Ngài ở lại vùng đất mới, hữu ngạn sông Thu Bồn, mảnh đất có núi, có sông, có hổ phục, rồng chầu để dựng xây cơ nghiệp.

 

Sông Thu Bồn chảy qua khu Gò Nổi như rồng thiêng uốn lượn trong mây

Từ đó, Tổ quốc ta có một vùng quê mới và dòng họ Phạm Trường trung hiếu đã xuất hiện trong cộng đồng bách tánh của dân tộc Việt Nam anh hùng!!!

 

III. SỰ NGHIỆP:

Núi không cần cao, nhưng có tiên ở thành núi thiêng;

Sông không cần sâu, nhưng có rồng chầu thành sông có uy lực!

Khi dừng chân tại khu vực hữu ngạn sông Thu Bồn, khu vực núi Chiêm Sơn Trà Kiệu, Tổ phụ chúng ta cùng Ông Đỗ Long Bảng, Thủy tổ tộc Đỗ nhìn thấy thế đất này có núi, có sông, phong thủy tốt đẹp. Sông Thu Bồn từ thượng nguồn đổ về uốn lượn quanh co như rồng thiêng uốn lượn trong mây.

 

Núi Trà Kiệu từng một thời che chở cho kinh đô Chiêm quốc

Núi Trà Kiệu kế bên chứa đầy linh khí vì đã từng một thời là bức tường thành tự nhiên che chở cho kinh đô Chiêm quốc. Hai Ngài quyết tâm dừng lại nơi này, khai phá đất đai để làm mạnh giàu cho Tổ quốc và đặt gốc sâu rễ bền cho con cháu mai sau.

 

Kể về thời gian này, nguyên tích gia phả bổn tộc còn ghi lại những ngày đầu tiên vất vả gian lao khai phá vùng đất mới (xin xem tòan văn bản dịch đính kèm trong phụ lục dưới đây). Gia phả tộc Đỗ cũng ghi như sau:

“… Xuất sư bình Chiêm lập ấp, đáo Quảng Nam tỉnh, Điện Bàn phủ, Diên Phước huyện hữu Phù Kỳ hoang sơ, tân bồi sa thổ, địa thế phì nhiêu, tả hữu lưỡng Trường Giang xuất ư Đại Chiêm chi hải cảng, sơn thuỷ hữu tình, vô nhân cư trú… Đỗ Long Bảng giữ Phạm Trường Thọ tuân chỉ quy tập nhân dân khai cơ lập nghiệp, phục hóa khẩn hoang, lập thành xã hiệu viết danh Bàn Lãnh xã…”

Dịch:

Cụ Tổ Đỗ Long Bảng theo vua vào Nam bình định Chiêm Thành, mở mang bờ cõi. Đến tỉnh Quảng Nam, phủ Điện Bàn, huyện Diên Phước, thấy một khu đất mới  bồi cát, đất đai phì nhiêu, bên trái, bên phải có hai sông sâu chảy ra cửa biển Đại Chiêm, non nước hữu tình, chưa người ở đó. Ông Đỗ Long Bảng cùng Ông Phạm Trường Thọ vâng mệnh vua ban, quy tụ nhân dân khai cơ lập nghiệp, phục hóa khai hoang, lập nên xã, lấy xã hiệu là Bàn Lãnh…”

(Về Ngài Thủy tổ Đỗ Long Bảng của tộc Đỗ, gia phả của tộc Đỗ Đăng ghi: Ngài là người anh em kết nghĩa (bạn thân) với ngài Phạm Trường Thọ Thủy tổ của tộc ta, cùng ở làng Nho Lâm, Diễn Châu, Nghệ An, cùng lên đường Nam tiến. Do Ngài Phạm Trường Thọ lớn tuổi hơn, nên được tôn làm anh. Cũng có thuyết cho rằng hai Ngài là anh em cô cậu ruột, Ngài Phạm Trường Thọ là anh).

 

Hai người anh em cùng nhau khai phá đất đai lập nên xã hiệu

 Từ ngày cùng đến khai cơ đất này đặt nên xã hiệu Bàn Lãnh xã, hai người bạn thân, hai người anh em, hai ngưởi đồng chí hướng ấy, tâm ý tương thông, đoàn kết một lòng, gắn bó chặt chẽ, thành công cùng hưởng, hoạn nạn cùng chia, đã kề vai sát cánh trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, quy dân, dựng ấp lập làng, rồi từ làng lên xã, lập nên xã Bàn Lãnh hoàn chỉnh, biến một vùng hoang sơ thưa bước chân người, đầy rẫy ác thú, hùm beo, rắn rết, muỗi mòng…thành một vùng đất đai trù phú.

Chúng tôi xin lược trích tiến trình khai cơ, lập xã như sau:

 

Xứ Trung Đồng

Đầu tiên khai phá xứ Trung Đồng: 39 mẩu, bảy sào, bảy thước, năm tấc.

Tiếp theo là các xứ:

-Bàu Hàm xứ: 02 mẩu, 03 sào

-Hoằng Đạo xứ: 07 sào

-Bàu Tây xứ: 02 mẩu

-Gò Gạch xứ: 07 mẩu, 03 sào

-Cây Thung xứ: 05 mẩu, 06 sào

-Sơn Hô xứ: 02 mẩu, 01 sào, 04 thước, 07 tấc

-Da Cá xứ: 01 mẩu, 03 sào, 06 thước

-Cồn Lão Mau xứ: 01 mẩu

 

Tre làng xứ

-Tre làng xứ: 02 mẩu, 05 sào

-Hòa Mỹ xứ: 12 mẩu, 08 sào

-Tiền Miếu xứ: 02 mẩu, 04 sào, 07 thước, 05 tấc

-Bàu Dinh xứ: 05 mẩu, 01 sào, 07 thước.

-Trung Hòa xứ: 45 mẩu, tám sào, năm thước, sáu tấc  

 

Gợi nhớ hồ xe Ông Xã Điền!

-Bàu Ngang xứ: 04 mẩu, 03 sào, 07 thước, 05 tắc.

-Sông Giang xứ: 02 mẩu, 04 sào, 09 thước, 02 tấc.

-Ông Me xứ: 01 mẩu, 07 sào

-Chơn Tây xứ: 05 sào

-Tre làng xứ: 01 mẩu

 

Bàu Điển xứ

-Bàu Điển xứ: 11 mẩu, 04 sào, 06 thước

-Bàu Tròn xứ; 05 mẩu, 08 sào, 01 thước.

-Bàu Đoài xứ: 01 mẩu, 06 sào

-Bàu Hàm xứ: 02 mẩu, 03 sào

-Chơn Tê xứ: 05 mẩu, 02 sào, 13 thước, 02 tấc

 

Đất công thổ trồng dâu

-Đất công thổ trồng dâu là 39 mẩu, 06 sào, 12 thước

-Cồn Chùa xứ: 06 mẩu, 03 sào, 05 tấc

-Hội Thị xứ: 03 mẩu, 09 sào

-Miếu Thành Hoàng: 01 mẩu

 

Lên Chùa cúng Phật

-Chùa thờ Phật ở các xứ: 04 mẩu, 01 sào

-Đất làm nghĩa địa các xứ : 05 mẩu, 05 sào, 06 thước.

 

Đường thủy 40 tầm

-Đường thủy chạy dài 40 tầm

Tổng cộng là 266 mẩu, 08 sào, 11 thước, 02 tấc.

Đó là chưa kể đất của xã Bàn Lãnh cho các xã kế bên mượn;

-Làng Xuân Đài mượn 18 mẩu, 0 sào, 05 thước, 03 tấc.

-Dinh Trận Tây mượn 01 mẩu, 04 sào, 07 thước, 05 tấc

-Kỳ Lam (thuộc Xuân Đài) mượn 18 mẩu, 0sào, 05 thước.

-Bàn Lãnh Đông Châu mượn 12 mẩu, 07 saò, 11 thước

-Và đất hiến cho làng Trừng Giang là 30 mẩu…

Đây là quá trình khai khẩn từ nhát cuốc đầu tiên, trải qua các vị Tiên hiền khai cơ, Hậu hiền khai khẩn, đến năm Gia Long lên ngôi, Việt Nam thống nhất cơ đồ, ra lệnh quy tập lại ruộng đất công tư điền thổ, lập thành châu bộ, xã ta đã khai đủ số diện tích đất này, được các xã kế bên chứng nhận rõ ràng, minh bạch.

(Xin xem một vài bản chứng nhận này ở phần phụ lục)

 

Hiện nay hậu duệ đích tôn đời thứ 16 tộc Phạm Trường đang giữ bản sao của Châu bộ Gia Long năm 1813, do cụ Đỗ Xuân Nghinh thừa sao vào năm Đinh Sửu nhằm ngày 01 tháng 11 năm 1997, chuyển giao.

Về quản lý, trong 266 mẩu, 08 sào, 11 thước đất, có 156 mẩu, 07 sào là đất công điền.

Đất công điền cứ ba năm quân cấp một lần theo nguyên tắc phân phối như sau:

Con trai trong xã, từ 18 tuổi đến 50 tuổi đều được chia một phần đất công như nhau, ước đạt một mẩu bốn sào là số đất công được chia nhiều nhất trong toàn tỉnh Quảng Nam thưở ấy, cho nên mới có câu nhân dân Quảng Nam truyền tụng: “Nhất Bàn Lãnh, nhì La Qua, thứ ba Tự Tràng”.

 

Ruộng đất cứ ba năm một lần, chia đều chonhân dân canh tác.

 Người già trên 50 tuổi, người góa bụa, cô đơn, tật nguyền, mồ côi cha mẹ đều được chia một phần ruộng đất bằng 30% của số dân đinh được hưởng. Con gái lấy chồng làng khác, mà gia đình bên chồng gặp khó khăn, không đất canh tác, nếu về làng ta xin đất, cũng được cấp đất để làm ăn. Những người dân làng khác đến ngụ cư, cũng được đối xử tử tế, tùy theo đóng góp mà cấp đất chia phần chứ không phân biệt đối xử.

Những việc làm đầy quãng đại, nhân đức, hiệp nghĩa, quang minh, chí công vô tư của của hai đấng Tiên hiền khai cơ, các đấng Hậu hiền khai khẩn còn được nhân dân Bàn Lãnh xã truyền tụng từ đời này sang đời khác, và còn lưu đến bây giờ, như là chuyện cổ tích của làng ta!

 

Đêm chong đèn ngồi nhớ lại,

từng câu chuyện ngày xưa!

Tuy nhiên, đó chỉ là phần khai khẩn đất đai, bề nổi của tảng băng. Chúng ta sẽ trở lại với công nghiệp của hai ngài Tiên hiền khai cơ ở phần sau.

Bây giờ, một câu hỏi được đặt ra là Ngài Thủy tổ của chúng ta và người bạn đồng chí hướng thủy tổ tộc Đỗ đến khai phá năm nào?

Tuy trong nguyên tích gia phả tộc Phạm Trường không ghi cụ thể năm Ngài đến, nhưng ở phần bổ sung gia phả do các thế hệ sau phụng tả, thì có ghi là: “ước đoán năm Thuỷ tổ chúng ta đến dừng chân tại khu Phù Kỳ khai phá đất đai là năm Canh Ngọ (Năm Canh Ngọ của thế kỷ 16 là năm 1570)”. Sự ước đoán này dựa trên căn cứ lịch sử của đất nước khi Tổ phụ chúng ta là người khuôn phò chúa Tiên Nguyễn Hoàng- Nam tiến. Ban đầu Nguyễn Hoàng chỉ được giao trấn thủ đất Thuận Hóa. Đến năm 1569 chúa ra Bắc chầu vua. Năm 1570 vua Lê Anh Tông gọi quan Tổng binh trấn thủ Quảng Nam là Nguyễn Bá Quýnh về cai trị Nghệ An, giao đất Quảng cho Nguyễn Hòang trông coi.

 

Quân chúa Nguyễn Hòang đến Quảng Nam vào năm 1570

Do vậy, quân chúa Nguyễn Hoàng đến Quảng Nam từ năm đó, cho nên ước định Tổ phụ ta đến Phù Kỳ vào năm 1570 là rất đúng đắn, có cơ sở khoa học lịch sử. Và còn ước định tiếp, chỉ sau hai năm khai đất lập nên xứ Trung Đồng, đến năm 1572 Tổ phụ chúng ta lập làng, tên gọi là làng Ba Lãnh Tây.

Làng Ba Lãnh Tây lên xã Bàn Lãnh năm nào, hiện chúng tôi đang tra cứu và đã có một số kết quả ban đầu, xin hẹn sẽ công bố ở bài sau.

Như vậy, sự bổ sung nguyên tích gia phả của các thế hệ cha ông có thể nói hoàn toàn chính xác. Ông cha ta dùng động từ “ước định” một cách khiêm tốn, chẳng qua vì không còn bút tích nguyên gốc để khẳng định mà thôi!

 

Đất đai ngày ấy bây giờ, hàng năm đã đem lại những mùa vàng cho dân xã Điện Trung!

Đất đai khai phá ngày ấy, bây giờ là những cánh đồng màu mở thuộc sở hữu tòan dân, dưới sự quản lý của xã Điện Trung, một thời đã được đưa vào HTX, và bây giờ thì quân cấp cho nhân dân canh tác, hàng năm đã đem lại những mùa vàng no ấm cho nhân dân trong xã, cũng như gần nửa thiên kỷ trước đây, Tổ tiên ta đã từng chia đất cho nhân dân cày cấy. Nhắc lại chuyện cũ, để con cháu ngàn đời sau ghi lòng tạc dạ công lao mở rộng quốc thổ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp mở mang bờ cõi, hình thành giang sơn Đại Việt, khẳng định chủ quyền thiêng liêng của quốc gia “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” và cũng để nhắc nhở muôn đời con cháu mai sau phải tận “trung với nước, tận hiếu với dân”. Cũng qua đây chúng ta không quên tư tưởng lớn, tình cảm lớn, đi trước thời đại của Tổ tiên, đó là tư tưởng công hữu tư liệu sản xuất ngay dưới thời phong kiến!

 

Tổ tiên ta ngày xưa rất chú trọng đến sự học

Thật ra, mở đất lập làng chỉ là một mặt trong  sự nghiệp của Tổ phụ ta và các đấng Hậu hiền. Điều quan trọng hơn là mở cả nền văn hiến. Tổ phụ ta là một nhà nho. Ngài chú ý đến sự học, nâng cao dân trí, phát triển nhân tài. Ngay từ buổi bình minh mở cõi, Ngài chăm lo dựng miếu, xây đình, dựng chùa, xây trường học để phát huy thuần phong mỹ tục, bài trừ hủ tục, nhất là những hủ tục do người bản địa tiền trú để lại như thờ tà thần, dâm thần, thần thú vật, cùng những bộ phận sinh dục của con người. Ngài đặt ra hương ước để giáo hóa nhân dân, đặt ra lễ nghĩa để đối nhân xử thế, đặt ra lệ làng để tiết chế những hành động thuộc về bản năng con người.

 

Ngày xưa các cụ họp đình định ra hương ước, lệ làng

Ngài đối xử có nghĩa, có tình với cả những người nằm xuống, dành những khu đất đẹp để làm nghĩa trang cho các linh hồn thanh thản yên nghỉ, cấp đất canh tác cho mẹ góa con côi, cha già, mẹ yếu của người đã khuất.

 

Mẹ góa, con côi đều được quan tâm nâng đở.

Gần cậy, xa trông, nhân dân không có đất cày ở các làng khác, nghe danh hiệp nghĩa, nhân đức của hai đấng Tiên hiền làng ta, kéo về làng ta nhờ cậy. Ngày xưa, người ta gọi đó là những người ngụ cư. Trong thời phong kiến, quyền lợi của người ngụ cư với người chính cư khác nhau một trời một vực. Nhưng ở làng ta không phải vậy. Ai đến cậy nhờ, đều được đối xử tử tế trong đùm bọc thương yêu, đều được cấp đất, chia phần, bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm.

 

Ở làng ta xưa, người ngụ cư, người chính cư đều

chung hưởng thái bình, không hề có sự phân biệt đối xử

Đến bây giờ, và cả trăm năm, ngàn năm sau, những câu chuyện kể về nhân đức của hai Ngài sẽ còn được lưu truyền, chắc chắn là như vậy, vì không ai có thể quên được, không thể nào quên sự lỗi lạc, quang minh chính đại, chí công vô tư, tấm lòng yêu nước thương dân của hai đấng Tiên hiền!!! Thế mới biết “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ…”.

….

 

Trăm năm sau, ngàn năm sau, gió vẫn kể cho cháu con chúng ta  nghe về công đức của hai đấng Tiên hiền làng ta!

Như là nợ duyên. Như là định mệnh. Thật kỳ diệu thay mối tình anh em, tình bằng hữu, tình đồng chí hướng của hai bậc sĩ phu yêu nước. Ngày mồng ba tháng mười hai năm Giáp Thân của thế kỷ thứ 16 tức dương lịch năm 1644, Ngài Phạm Trường Thọ về trời, thì chỉ hai ngày sau, ngày mồng năm, ngài Đỗ Long Bảng cũng ra đi. Hai con người vĩ đại, hai nhà nho yêu nước, hai nhà trí thức đức lớn, chí cao, tuy không sinh cùng năm, cùng tháng, cùng giờ, nhưng đã mất hầu như cùng một lúc.

 

Khi sống, hai Ngài luôn kề vai sát cánh bên nhau. Khi vể trời, con cháu hai tộc Phạm Đỗ cũng xây dựng Từ đường hai Ngài nằm sát bên nhau. Đó là định mệnh

Hai Ngài đến khai cơ lập làng Bàn Lãnh từ ngày đầu tiên, với ước mong thiên hạ thái bình, tạo phúc cho dân, đến khi “hòan thành nhiệm vụ”, đã thanh thản dắt nhau đi vào cõi vĩnh hằng! Trong nhửng ngày Đông ấy, trời Bàn Lãnh đầy chớp bể mưa nguồn, mây thấp la đà xuống tận ngọn cây, dân làng nói chẳng biết đó là nước mưa hay là nước mắt!

Nhân dân, hào lý trong toàn xã tổ chức tang lễ hai Ngài vô cùng trọng thể, lập bia mộ ghi nhớ ơn Người.

 

Bàn thổ Triệu cơ phạm Phủ Quân chi thần vị

Bia mộ Ngài Phạm Trường Thọ ghi : “Bàn thổ Triệu cơ, Phạm Phủ Quân chi mộ- Bổn xã phụng lập”, dân xã xét đức hạnh tôn thụy hiệu Ngài là Đại Đức. Bia mộ Ngài Đỗ Long Bảng ghi: “Bàn Thổ triệu cơ Đỗ Phủ Quân chi mộ- Bổn xã phụng lập”.

 

Mộ Ngài Phạm Trường Thọ nẳm giữa cánh đồng xứ

Trung Đồng, tọa Canh sơn, giáp hướng, đắc vòng Tràng Sanh,

con cháu tộc Phạm Trường muôn đời tụ, không bị ly tán!

 Mộ Ngài Phạm Trường Thọ nằm ở giữa cánh đồng xứ Trung Đồng (Trung Đồng nghĩa là giữa cánh đồng) đầu gối núi, chân đạp biển Đông, Canh Sơn, Giáp hướng, đắc vòng Tràng Sinh (kỳ lạ thay trùng hợp với tên Ngài là Trường Thọ!), nghĩa là muôn đời sau con cháu của Ngài chỉ tụ (tụ hợp, đoàn tụ) chứ không có tán (ly tán). Bia mộ khắc lời di chúc “bách thế bất thiên” (hàng trăm đời sau con cháu không được di dời). Mộ Ngài Đỗ Long Bảng nằm ở xứ Chơn Tây, gần vườn đình Bàn Lãnh xã, tọa Khôn sơn, Cấn hướng. Cũng thật kỳ lạ, Ngài Đỗ Long Bảng cũng di chúc cho con cháu muôn đời “bách thế bất thiên”.

Hai Ngài sống là phúc thần của nhân dân Bàn Lãnh xã, khi chết được các Hoàng đế Nhà Nguyễn phong thần. Năm Minh Mạng thứ 20, hai Ngài được sắc phong “Thành hoàng bổn thổ đại lang chi thần”. Năm Khải Định cửu niên 1924, nhân tứ tuần đại khánh, Hoàng đế bệ hạ công nhận hai Ngài “niệp trứ linh ứng” (nổi tiếng linh thiêng) gia phong “Dực bảo trung hưng linh phò tôn thần” (vị thần mạnh mẽ giúp nhà vua trung hưng đất nước). Cả hai vị Hoàng đế đều giao cho dân Bàn Lãnh xã phụng thờ để hai Ngài “bảo ngã lê dân” (bảo vệ dân đen của Trẩm).

 

Lòng riêng ghi nhớ đôi dòng, may đặng nghìn thu còn lại! Con cháu truyền lưu mãi mãi, gần cậy, xa trông! Tổ tiên công đức như Trời, phải nhớ cây cội, nước nguồn, nghìn thu hương lửa!

 

Ông Phạm Trường Thành (bên phải), cháu Phạm Trường

Ngọc Tuấn đồng tác giả bài này.

Phạm Trường Thành, PCT HĐGT, đời 14, phái Nhì

Phạm Trường Ngọc Tuấn, hậu duệ đích tôn đời thứ 16

Tộc Phạm Trường. Hai ông cháu đều là ngoại tôn của

Tiên hiền Đỗ Long Bảng  

                                                                     Cẩn bút !

Gởi cho bạn In bài
Ý kiến - Bình luận
2 mục ý kiến, bình luận
Test (15:26' | 17/12/2012)
stdfughojpkl;k
jkbnkjnklnlknlk
Phạm Văn Bắc

Test 02 (15:28' | 17/12/2012)
sagfdhggf
fgkhghjlhklj;kl
dgxfcb
  Ý kiến của bạn
HỌ PHẠM
Lá cờ họ Phạm Việt Nam
Logo họ Phạm Việt Nam
Ảnh đô hồ đại vương Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm
Mộ Phạm Tu
 
 

Bản quyền thuộc về Hội đồng gia tộc họ Phạm Trường - Bàn Lãnh Xã.
Ghi rõ nguồn "www.tocphamtruong.com" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Mọi thông tin vui lòng liên hệ ông Phạm Trường Ngọc Tuấn - ĐT: 0938 956 186Phạm Trường Hiền - ĐT: 0905 064064,

Phạm Trường Giang - ĐT: 0918 19 66 77.

E-mail : paulovvtuan@yahoo.com.vn

Designed by Viet Pho Co., Ltd.